Tiết lộ lá thư gửi hậu thế ở thủy điện Hòa Bình (phần 2)

Người ta đồn rằng, trong bức thư ấy dự báo được tình hình đất nước. Thậm chí, có người tin rằng, bức thư để... trấn yểm. Thực hư ra sao.
Những ai đã đến thăm công trình thủy điện Hòa Bình trên sông Đà hẳn đều biết đến bức thư gửi hậu thế và hẹn ngày mở vào 1/1/2100.
Nửa năm mới soạn được bức thư
Ông Đỗ Xuân Duy, nguyên là Trưởng ban phiên dịch chuyên gia cơ giới kiêm thư ký của Thứ trưởng Bộ Xây dựng trực tiếp làm Tổng Giám đốc Tổng Công ty xây dựng Nhà máy thủy điện Hòa Bình - Phan Ngọc Tường, cho hay: Ngay khi đề xuất về lá thư gửi hậu thế được ông Bô-gô-tren-kô - Tổng chuyên viên Liên Xô đưa ra và được chấp thuận, tổng công ty đã nhận được rất nhiều thư của đông đảo cán bộ, chuyên gia, công nhân trực tiếp làm việc trên công trường, của các nhà văn, nhà báo, nhân sĩ trí thức trên mọi miền Tổ quốc.
Ban tổ chức đã tập hợp, lựa chọn những đoạn hay nhất để thảo thành một bức thư. Nội dung của các bức thư gửi về đều nói đến sự quyết tâm, nỗ lực cũng như sự hy sinh to lớn của những người xây dựng thủy điện. Đồng thời, các bức thư cũng nhắc đến hậu phương vững chắc của cả nước đã đóng góp từ cây kim, sợi chỉ đến lương thực cho cán bộ, công nhân để xây dựng công trình này. Các bức thư cũng nhắc đến giai đoạn ta xây dựng nhà máy thủy điện lớn nhất Đông Nam Á và lớn nhất thế giới về công trình ngầm khi nhân dân ta cơm chưa đủ no, áo chưa đủ ấm mà vẫn quyết tâm làm bằng được.
Ông Duy đặc biệt ấn tượng với bức thư của nhà văn Thép Mới - khi đó đang là phóng viên báo Nhân dân thường trú tại TPHCM. Điều đặc biệt là nhà văn chưa từng ra thăm công trường, chỉ mới đọc qua báo chí và nghe kể lại. Trong bức thư có đoạn: "Hôm nay, trước núi Tản sông Đà, chúng tôi - những Sơn Tinh của thời đại mới - những người xây dựng thủy điện Hòa Bình trên sông Đà Việt Nam và Liên Xô xin gửi đến các thế hệ mai sau những dòng tâm huyết...".
Mất chừng nửa năm, công việc tập hợp thư mới kết thúc và đã chọn ra được những đoạn hay nhất để gửi cho thế hệ mai sau. Bức thư có một số đoạn của nhà văn Quang Huy - Giám đốc Nhà Xuất bản Văn học, nhà văn Thép Mới, nhà báo Nguyễn Thị Sửu, ông Za-xe-pi-lin - Bí thư Đảng ủy của đoàn chuyên gia Liên Xô...
Cổng trước nhà máy Thủy điện Hòa Bình.
Mực và giấy viết đều nhập từ Liên Xô
Sau khi đã chọn được nội dung để viết bức thư gửi hậu thế, ban tổ chức lựa chọn người viết bức thư ấy. Ông Duy đã được chọn. Lý giải cho điều này, ông kể: "Năm 1967, tôi đang làm ở Vườn Quốc gia Cúc Phương, được cử đi học lớp vẽ bản đồ ở Cục Khảo sát đo đạc - Bộ Xây dựng đóng ở đồi Hốp, Vĩnh Yên. Thầy dạy tôi vẽ bản đồ là một trong những người viết giỏi nhất Bộ Xây dựng - thầy Phạm Nguyễn Tuân. Đó là lý do để tôi được chọn viết bức thư gửi hậu thế. Bởi bức thư được viết bằng mực tus (mực đen pha sẵn ra như mực tàu, chuyên dùng viết trên giấy can để vẽ bản đồ). Thư được viết trên một chất liệu không phai nhòe, tất cả được gửi từ Liên Xô sang. Bức thư được viết bằng cả tiếng Việt và tiếng Nga, dài chừng 1,5 trang đánh máy, tức là khoảng 500 - 700 từ".
Cuối tháng 1/1983, nhân dịp có đoàn đại biểu Đoàn TNCS Liên Xô sang giao lưu hữu nghị với Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, ban lãnh đạo Tổng công ty quyết định làm lễ công bố bức thư gửi hậu thế. Buổi lễ có sự tham dự của hàng vạn người, gồm lãnh đạo tổng công ty, chuyên gia, đoàn đại biểu thanh niên hai nước, công nhân và nhân dân Thị xã Hòa Bình. Bức thư được đọc bằng hai thứ tiếng. Phần tiếng Việt do ông Ngô Xuân Lộc - Tổng Giám đốc (thay ông Phan Ngọc Tường). Còn phần tiếng Nga do ông Za-xe-pi-lin đọc. Buổi công bố lá thư được Báo Nhân dân đưa tin trên số báo ra ngày 31/1/1983.
Tại sao mở thư vào ngày 1/1/2100?
Sau khi đọc xong, bức thư được cuộn tròn lại, cho vào một cái ống quyển bằng đồng nguyên chất. Ống này cũng được gửi từ Nga sang, là một ống đặc, được giao cho thợ tiện bậc 7 của xưởng cơ khí 500 xe thuộc tổng công ty khoan rỗng để đưa được lá thư vào, sau đó gia công nắp vặn cho kín hơi. Sau đó, ống đồng được cho vào một khối bê tông hình bát giác, trọng lượng khoảng 10 tấn, phía ngoài được đậy lại bằng một tấm bảng bằng đồng có 4 cái vít lớn. Khối bê tông này hình thù giống những khối bê tông nặng khoảng 3 - 5kg được làm cho các nhà lãnh đạo ném xuống sông Đà khi làm lễ ngăn sông ngày 12/1/1983. Thời điểm mở bức thư vào ngày 1/1/2100.
Trong dự thảo thư gửi thế hệ mai sau, ông Za-xe-pi-lin đã viết: "Hòa bình - tên gọi công trình của chúng tôi là biểu tượng tốt đẹp nhất, là nguyện vọng tha thiết nhất trên trái đất này. Hãy giữ cho bầu trời trên đất nước Việt Nam và Liên Xô, trên những lục địa và đại dương mãi mãi Hòa Bình".
Lý giải việc lựa chọn này, ông Duy cho hay: "Vì là thư gửi thế hệ mai sau nên cần phải lựa chọn những người không sinh ra, lớn lên ở thời điểm gắn lá thư ấy (1983). Nếu chọn đúng 100 năm sau thì rất có thể nhiều người sinh năm này vẫn còn sống, nên phải chọn hẳn sang năm 2100, bởi khó ai có thể sống đến 117 tuổi được".
Chọn... người trên trời để gắn ốc vít
Việc chọn người cầm tấm biển để bắt vít vào khối bê tông cũng được ban tổ chức lựa chọn kỹ càng. Theo đó, phải đảm bảo 8 tiêu chí: Có nam, có nữ, có già, có trẻ, có Việt Nam, có Liên Xô, có người dưới đất, có người... trên trời. "Sở dĩ chọn như vậy là vì dù sao, lá thư cũng mang yếu tố linh thiêng", ông Duy lý giải.
Sau khi họp bàn, ban tổ chức quyết định chọn ông Bô-gô-tren-kô - Tổng chuyên viên Liên Xô, đại diện người già. Ông Vũ Mão, Bí thư thứ nhất Đoàn TNCS HCM đại diện cho người trẻ. Ông Ngô Xuân Lộc là Tổng chỉ huy người Việt Nam. Nhưng còn thiếu phụ nữ và "người trên trời". Ban đầu, Ban tổ chức dự tính chọn một trong hai người là chị Lê Thị Ngừng - nữ thợ lái máy xúc EKG 4,6 khối đầu tiên ở Việt Nam và nữ kỳ thủ vô địch thế giới môn cờ vua người Gru-zi-a. Nhưng cuối cùng lại chọn nữ phi hành gia vũ trụ thứ 2 của thế giới là Xa-vit-xkai-a. Như vậy đã đáp ứng đủ 8 tiêu chí trên.
"Chỉ một ngày sau lễ gắn tấm biển, chúng tôi nhận được tin 1 trong 4 cái vít đã bị ai đó tháo mất. Vậy là đành quyết định hàn cứng tấm biển đó vào khối bê tông như mọi người thấy khi lên thăm Nhà máy thủy điện Hòa Bình hiện nay", ông Duy kể.
Khối bê tông có chứa bức thư được đặt tại sân Nhà Điều độ. Tấm bảng đồng ghi rõ: "Nơi lưu giữ bức thư của những người xây dựng thủy điện Hòa Bình gửi thế hệ mai sau. Thư được mở vào ngày 1/1/2100".
"Nhiều người lên thăm thủy điện Hòa Bình về có kể lại với tôi rằng, bức thư đó dự đoán được tình hình đất nước. Có người lại bảo nó mang yếu tố tâm linh, kỳ bí, làm bùa trấn yểm. Nói chung, có rất nhiều sự "tam sao thất bản" về bức thư đó, đẩy câu chuyện lên cho thêm phần kỳ bí. Thế nhưng, đó chỉ là lời đồn thổi vô căn cứ. Không hề có chuyện đó", ông Duy xác nhận.
Nhưng nội dung bức thư ấy cụ thể như thế nào sẽ vẫn là một bí ẩn, cho đến năm 2100!
"Thời gian ấy, chúng tôi làm việc không phải 8 tiếng/ngày mà là suốt đêm ngày. Chính Tổng Giám đốc Phan Ngọc Tường, đang là Thứ trưởng Bộ Xây dựng mà đêm đêm vẫn phải lái xe xuống công trường để bàn bạc thêm với chuyên gia, đốc thúc anh em công nhân làm việc", ông Duy bồi hồi nhớ lại.
Doanh nghiệp Việt Nam (Theo Thanh Thủy/Kiến thức)

Các tin khác

Trường mới ở vùng biên

Trường mới ở vùng biên

(GLO)- Gần một tháng sau lễ khai giảng năm học 2026 - 2027, thầy và trò tại 7 trường phổ thông nội trú Tiểu học và THCS trên tuyến biên giới của tỉnh Gia Lai đang từng bước ổn định nền nếp dạy học.

Bí ẩn giếng cổ ở xã đảo Đà Nẵng

Bí ẩn giếng cổ ở xã đảo Đà Nẵng

Giữa vùng biển đảo quanh năm nắng gió, nơi từng giọt nước ngọt quý hơn vàng, hai giếng cổ dưới chân núi Bàn Than ở Tam Hải vẫn trong veo, mát lành qua hàng trăm năm. 

Những ngày ở xứ Kim Chi: Kỳ 2: 24 giờ ở Jeonju - thủ phủ của Jeollabuk-do

Những ngày ở xứ Kim Chi: Kỳ 2: 24 giờ ở Jeonju - thủ phủ của Jeollabuk-do

(GLO)- Hai lần đổi tàu với gần 3 giờ từ Busan đưa chúng tôi đến Jeonju - thủ phủ và là thành phố cổ yên bình của tỉnh Jeollabuk-do. 24 giờ ở đây đủ để nhận ra sức hấp dẫn của một vùng đất biết giữ gìn ký ức, chăm chút từng góc phố và biến những giá trị truyền thống thành sức hút du lịch.

Những ngày ở xứ Kim Chi: Kỳ 1: Phủ Sơn Quảng vực thị

Những ngày ở xứ Kim Chi: Kỳ 1: Phủ Sơn Quảng vực thị

(GLO)- L.T.S: “Những ngày ở xứ Kim Chi” là ghi chép của tác giả Đoàn Minh Phụng trong hành trình qua Busan, Jeonju và Seoul. Hơn một chuyến đi, loạt bài còn gợi mở những suy ngẫm về cách người Hàn gìn giữ văn hóa, tổ chức du lịch, xây dựng nếp sống văn minh và mở rộng giao lưu với Việt Nam.

Đất Vua xứ Rượu…

Đất Vua xứ Rượu…

(GLO)- Những ngày đầu thu, khi cái nắng miền Trung đã bớt gay gắt, những cơn mưa bắt đầu ghé qua nhiều hơn, đất trời xứ An Nhơn cũng dịu lại. Lúc đầy lúc vơi, sông Côn vẫn lặng lẽ chảy qua những xóm làng, mang theo phù sa và câu chuyện của một vùng đất từng là kinh đô. 

Về nơi cuối nguồn sông Lại

Về nơi cuối nguồn sông Lại

(GLO)- Ở nơi dòng Lại Giang khép lại hành trình để hòa vào Biển Ðông, sông - đồng - rừng - biển cùng hiện diện trong một không gian sống đặc biệt. Ðó là vùng đất Hoài Nhơn Ðông.

Món quà nhỏ nối dài lòng tốt

Món quà nhỏ nối dài lòng tốt

Mỗi lần nấu cơm cho gia đình, chị Trương Thị Phượng lại chuẩn bị thêm một, hai suất. Hôm nay, trong những chiếc hộp được xếp ngay ngắn là cơm trắng, khoai tây xào, gà xào và canh nóng. Chị chụp lại phần cơm, đăng lên nhóm “Cho tặng đồ miễn phí tại Hà Nội”, rồi chờ người cần đến nhận.

Vườn quốc gia Chư Yang Sin có 'nữ tướng rừng xanh'

Vườn quốc gia Chư Yang Sin có 'nữ tướng rừng xanh'

Hơn 16 năm gắn bó với Vườn quốc gia Chư Yang Sin, Hoàng Thị Hương là một trong số ít nữ kiểm lâm của đơn vị. Chị gắn bó với nghề không để chứng minh mình mạnh mẽ, mà bởi đó là công việc chị đã chọn.

Dệt màu xanh ấm no trên miền biên viễn

Dệt màu xanh ấm no trên miền biên viễn

(GLO)- Hơn 41 năm có mặt trên tuyến biên giới phía Tây của Tổ quốc, Binh đoàn 15 đã biến vùng đất cằn cỗi, đầy tàn tích chiến tranh thành vườn cao su, cà phê bạt ngàn.

Nghề xưa vẫn chảy bên dòng sông Côn

Nghề xưa vẫn chảy bên dòng sông Côn

(GLO)- Bên dòng sông Côn, đoạn chảy qua thôn Kiên Mỹ (xã Tây Sơn, tỉnh Gia Lai) từ lâu đã hình thành những xóm nghề gắn với đời sống người dân như làm đậu khuôn, giá đỗ, bún, bánh tráng, các loại bánh truyền thống, trồng rau... 

Phía sau đầu sóng Trường Sa

Phía sau đầu sóng Trường Sa

Bán đảo Cam Ranh nắng gió có một khu đô thị đặc biệt mang tên Khu đô thị Căn cứ quân sự Cam Ranh (Khánh Hòa). Sau những ô cửa bình yên nơi đây là mái ấm của các gia đình quân nhân, trong đó có những người vợ đang ngày ngày thay chồng chăm lo tổ ấm, khi các anh làm nhiệm vụ nơi đầu sóng Trường Sa.

Thầy tôi là nhà cách mạng làm thơ

Thầy tôi là nhà cách mạng làm thơ

Tôi gọi cha tôi bằng 'thầy' vì ông cụ muốn tôi nhớ lại gốc gác của mình từ một làng nào đó ở đất Nghệ An. Người Bắc hay gọi cha là thầy, mẹ là u. Bên nội tôi là người di dân, vào Quảng Ngãi từ mấy trăm năm trước.

Lưu giữ ký ức thời hoa lửa bằng công nghệ

Lưu giữ ký ức thời hoa lửa bằng công nghệ

(GLO)- Chiến tranh đã lùi xa hơn nửa thế kỷ. Những người trực tiếp đi qua những năm tháng khốc liệt ấy, nay đều đã ở tuổi xế chiều. Nhưng thời gian không chờ đợi ai. Khi những nhân chứng dần vắng bóng, cũng là lúc nhiều mảnh ghép ký ức về lịch sử dân tộc không còn cơ hội được kể lại.

Lộ Diêu vươn mình từ gian khó

Lộ Diêu vươn mình từ gian khó

(GLO)- Trước đây, Lộ Diêu (phường Hoài Nhơn Đông) như một thế giới tách biệt với bên ngoài. Ðặc trưng địa hình và cuộc sống của người dân nơi đây được đúc kết qua câu: “Lộ Diêu một biển ba đèo - Gian nan đã vượt, khó nghèo đã qua”.

Tìm nhau giữa hòa bình - Kỳ 1: Cô y tá và vết sẹo trên đầu

Tìm nhau giữa hòa bình - Kỳ 1: Cô y tá và vết sẹo trên đầu

Không ít những đồng đội chung chiến hào những ngày khói lửa, sau ngày hòa bình vì nhiều lý do, họ đã không gặp lại hoặc chưa gặp lại nhau. Những đồng đội cùng quê may mắn là ít nhất mỗi năm lại được gặp nhau vào dịp kỷ niệm ngày nhập ngũ.

“Viết tiếp câu chuyện hòa bình” từ kỷ vật chiến trường

“Viết tiếp câu chuyện hòa bình” từ kỷ vật chiến trường

(GLO)- Luôn xem kỷ vật chiến trường là “gia tài”, song Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Nguyễn Văn Nhương (SN 1948, trú phường Diên Hồng, tỉnh Gia Lai) vẫn quyết định hiến tặng, như lời nhắn gửi đến thế hệ sau về những ngày cả đất nước gian khổ đấu tranh vì độc lập dân tộc.

Làng xưa nay đã đổi thay

Làng xưa nay đã đổi thay

(GLO)- Sau khi về định cư ở vùng đất mới, cuộc sống của người dân 4 làng Plei Pông, Kinh Pêng, Plei Trớ và Plei Hek thuộc xã Chư A Thai (là các làng căn cứ cách mạng trong 2 cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ, còn gọi là 4 làng Ðồn) đã có nhiều đổi thay rõ nét.

Mang con dấu đến bản

Mang con dấu đến bản

Hai đứa con đã 15 và 13 tuổi, nhưng lần đầu tiên, vợ chồng anh Moong Văn Phong mới đi làm khai sinh cho con khi Trung tâm Phục vụ hành chính công xã Nhôn Mai (Nghệ An) mang con dấu đến tận bản để làm thủ tục cho dân.

Những dáng lính vùng biên

Những dáng lính vùng biên

(GLO)- Tôi gặp những người lính trên những chuyến tàu tuần tra ngoài khơi xa, giữa những hải trình dọc dài duyên hải đồng hành, làm chỗ dựa bảo vệ ngư dân và giữ gìn an ninh trật tự trên biển quê hương; gặp họ giữa những vùng biên giới Campuchia heo hút đầy nắng gió.

Ruổi rong đời chăn vịt

Ruổi rong đời chăn vịt

(GLO)- Sau mỗi mùa gặt, những cánh đồng lúa ở các xã An Lương, An Hòa, An Vinh, Tuy Phước… lại rộn ràng bởi đàn vịt hàng nghìn con tìm về kiếm ăn. Gắn với đàn vịt, những người chăn vịt miệt mài rong ruổi qua nhiều cánh đồng, lấy mùa gặt làm nhịp mưu sinh.

Trầm tích sông Ba

Trầm tích sông Ba

(GLO)- Sông Ba đoạn qua xã Ia Dreh (tỉnh Gia Lai) mùa khô, vài con thuyền đánh cá nằm gối đầu nghỉ ngơi trên những doi cát. Chiều xuống, từ những bến sông, người dân vẫn ra tắm mát dù nước cạn tới mức có thể lội ra giữa dòng.

Ký ức buồn đau của những người lầm đường lạc lối

Ký ức buồn đau của những người lầm đường lạc lối

(GLO)- Sau nhiều năm vượt biên, cư trú bất hợp pháp tại Thái Lan, 5 người Việt quê Gia Lai đã bị Cảnh sát Thái Lan bắt giữ và trục xuất về nước. Trở về đoàn tụ với gia đình, họ mang theo ký ức buồn đau về những tháng ngày sống chui lủi, thiếu thốn, bệnh tật nơi đất khách quê người.