Thăng trầm ngành cà phê

* Kỳ 1: Từ “chiếc nôi” 331
(GLO)- Ở  2 tỉnh Bắc Tây Nguyên (Gia Lai và Kon Tum), gần nửa thế kỷ qua, cà phê đã trở thành “cây xóa đói giảm nghèo”, là một trong những mặt hàng xuất khẩu chủ lực nuôi sống hàng vạn con người. Tất nhiên không có thành quả nào tự nhiên đến và cũng không thành quả nào chỉ vươn thẳng một chiều. Lịch sử phát triển cây cà phê trên vùng đất này cũng đã trải qua không ít thăng trầm. Và cho đến hôm nay, những dấu hỏi lớn cho ngành sản xuất cà phê nơi đây vẫn đang chờ lời giải.
Những ngày đầu giải phóng, cái tên “Đoàn 331” đã trở nên thân quen với hầu hết người dân trên địa bàn Bắc Tây Nguyên. Hàng vạn người lính quân phục còn vương mùi khói đạn đã lại bắt tay vào cuộc chiến mới. Qua bao khó khăn tưởng chừng không thể vượt qua của những năm tháng đất nước mới ra khỏi chiến tranh; qua bao sự dịch chuyển đầy trắc trở của cơ chế bao cấp, bàn tay quả cảm của người lính đã biến bao vùng đất chìm trong đạn bom, chất độc hóa học hồi sinh, tạo tiền đề cho vùng đất vô danh trở thành một trong những vùng chuyên canh cà phê trọng điểm trên bản đồ Tổ quốc.
Dọc Đức Cơ đến Plei Kần
Năm 1973, sau khi Hiệp định Paris được ký kết, thế và lực của ta trên địa bàn chiến lược Tây Nguyên đã trở nên vững chắc. Tuy nhiên, ở một số nơi, cuộc chiến vẫn trong tình thế giằng co ác liệt. Nhằm “xây dựng một hậu phương chiến lược giàu về kinh tế, mạnh về quốc phòng, sẵn sàng đánh lâu dài và quyết thắng giặc Mỹ xâm lược, quyết tâm giải phóng miền Nam khi thời cơ và vận hội đến”, tháng 7-1973, Đoàn 773 được thành lập, trực thuộc sự lãnh đạo của Khu ủy Khu 5. Sau đó một thời gian, trước yêu cầu của tình hình mới, 5 đoàn kinh tế (tương đương cấp trung đoàn) được thành lập gồm 731, 732, 733, 734 và 331. Nhiệm vụ của các đoàn là sản xuất lương thực, thực phẩm, sẵn sàng chi viện cho các đơn vị tiền phương…
Tháng 12-1976, theo quyết định của Bộ Quốc phòng, Đoàn 331 tách khỏi Đoàn 773 với nhiệm vụ: xây dựng vùng chuyên canh cây lương thực, thực phẩm ở Đak Uy-Võ Định (nay thuộc huyện Đak Hà, tỉnh Kon Tum), chuẩn bị cơ sở vật chất để trồng cây công nghiệp dài ngày trên các khu vực Đức Cơ, Lệ Thanh, La Sơn của tỉnh Gia Lai… Quân số lúc mới thành lập của Đoàn 331 lên tới trên 16.000 người với 18 đầu mối trực thuộc. Một vùng đất đai mênh mông trên địa bàn Gia Lai bây giờ là nơi đứng chân của các công ty thuộc Binh đoàn 15, các công ty cà phê thuộc Tổng Công ty Cà phê Việt Nam, Công ty chè Biển Hồ…; tại Kon Tum là 4 công ty cà phê Đak Uy và một số nông trường trồng lúa ngày ấy đều là “lãnh địa” của Đoàn 331. Ông Trần Quang Hùng-nguyên chiến sĩ Đoàn 331-nhớ lại: “Nhằm chuẩn bị tiền đề cho việc trồng cây công nghiệp, chúng tôi được giao nhiệm vụ sản xuất lương thực. Để có đất, lính ta được lệnh phá bỏ một số diện tích cao su thời “dinh điền”. Mỗi người được giao khoán đào 3 gốc/ngày. Tiếng là “sản xuất lương thực” nhưng kỳ thực chỉ có củ mì. Mà củ mì cũng đâu có đủ để ăn no. Đói vàng cả mắt…”.
 Đại tướng Võ Nguyên Giáp thăm cán bộ, chiến sĩ Đoàn 331 năm 1977. Ảnh: TƯ LIỆU
Đại tướng Võ Nguyên Giáp thăm cán bộ, chiến sĩ Đoàn 331 năm 1977. Ảnh: TƯ LIỆU
Thực tình trong cơ chế bao cấp, làm ăn kiểu “nước sông công lính”, nếu hạch toán như bây giờ chắc hiệu quả kinh tế không cao. Nhưng dù sao Đoàn 331 cũng đã tạo dựng được một nền tảng cơ sở vật chất rất đáng quý với hàng ngàn héc ta ruộng nước, hàng trăm cây số đường giao thông, hàng chục hồ đập thủy lợi lớn nhỏ. Đặc biệt, Đoàn đã xây dựng thành công đập Đak Uy-công trình thủy lợi lớn nhất Tây Nguyên bấy giờ với sức tưới 2.500 ha, tạo tiền đề cho việc hình thành các vùng trọng điểm cà phê về sau.
Năm 1980, một sự kiện có tính lịch sử đã diễn ra đối với ngành cà phê Tây Nguyên nói chung và Bắc Tây Nguyên nói riêng: Chính phủ chủ trương hợp tác với 4 nước xã hội chủ nghĩa gồm Liên Xô, Tiệp Khắc, Bulgaria và Ba Lan trồng cà phê trên địa bàn các tỉnh Tây Nguyên. Để triển khai chủ trương này, Bộ Nông nghiệp đã thành lập Liên hiệp các xí nghiệp Cà phê Việt-Xô, Việt-Tiệp đứng chân tại Đak Lak. Riêng Liên hiệp các xí nghiệp cà phê Việt-Bul 331 đứng chân tại Gia Lai-Kon Tum. Sau khi tổ chức lại bộ máy và mô hình hoạt động, bàn giao các đơn vị 702 A, 702 B, 703, 732 và một số cơ sở sản xuất khác về Tổng cục Cao su, Quân khu 5… đến cuối năm 1988, Xí nghiệp liên hiệp Cà phê 331 có 11 nông trường chuyên canh cà phê. Bắt đầu từ đây, cây cà phê mới thực sự có chỗ đứng chính thức trên đất Bắc Tây Nguyên, đưa miền đất bao năm nhuần trong nắng gió, đạn bom lật sang trang mới.
Những hy sinh thầm lặng
Đã 2 đời cây nối nhau trên triền đất đỏ nhưng kỷ niệm về những ngày mở đất gian khổ dường như vẫn còn tươi ròng trong ký ức ông Trần Duy Lành-nguyên Phó Tham mưu trưởng Trung đoàn 701, Đoàn 331: “Ngày ấy, để có đất trồng cà phê, chúng tôi phải rà phá bom mìn. Công việc chết người này được tiến hành rất mạo hiểm: dùng máy ủi DT75 chà qua những thửa đất được xác định phải rà phá. Xác định có thể hy sinh, đơn vị lấy tinh thần tự nguyện. Giữa thời bình, sự sống đáng quý biết bao, vậy mà không ít anh em xung phong, lại bình thản dự lễ truy điệu sống cho mình. Chỉ để có 5 ha đất khu vực cống Ba Lỗ và địa điểm UBND thị trấn Đak Hà bây giờ, 3 chiếc máy DT75 đã trúng mìn khiến 2 đồng chí bị thương.
Đấy là những hy sinh hiện hữu. Còn bao sự hy sinh thầm lặng, khuất lấp thì ai kể hết thành lời. Địa bàn đứng chân của các nông trường đều là rừng, xa cách dân cư. Ẩn chứa trong lòng đất là những bom mìn, chất độc khai quang. Bối cảnh kinh tế bấy giờ là những năm “cải cách giá-lương-tiền”, lạm phát phi mã, tiêu chuẩn lương thực mỗi công nhân chỉ 15 kg gạo/tháng nhưng 10 ngày mới được cấp một lần. Thực phẩm chỉ rặt một thứ cá chuồn khô ướp muối cứng như đá… Công việc nặng nhọc, ăn uống kham khổ, đất chưa bén hơi người thì sốt rét đã nổi lên hoành hành. Vào bệnh xá nông trường nào, ấn tượng đập vào mắt cũng là những thân hình co rúm, run lẩy bẩy nằm la liệt. Không ít người chuyển sang sốt ác tính mà không phương cứu chữa. Ông Đoàn Triệu Nhạn, bấy giờ là Tổng Giám đốc Liên hiệp các xí nghiệp cà phê hồi tưởng: “Nhớ một buổi chiều năm xưa, tôi cùng anh Trần Khải-Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kế hoạch nhà nước đứng ở cổng Nông trường Ia Grai. Từ Nông trường đi ra, trước mặt chúng tôi là hàng chục chiếc cáng đưa anh chị em công nhân sốt rét đi bệnh viện. Cảnh thật buồn và gợi cho chúng tôi bao suy nghĩ…”.
Không chỉ sốt rét, ở một số nông trường, công nhân nữ còn mắc một chứng bệnh mà người ta gọi là “rối loạn công năng”. Đang bình thường, thốt nhiên phá lên cười điên dại rồi chạy lung tung như người mất trí. Có người đang đêm leo tuốt lên ngọn cây cười man dại. Giữa rừng núi mịt mùng, tiếng cười nghe buốt lạnh cả sống lưng…
Cho đến nay hình như vẫn chưa ai thống kê số cán bộ, công nhân Đoàn 331 đã nằm xuống vì sự nghiệp phát triển ngành cà phê buổi ấy. Song, chỉ một đoạn hồi ức của ông Đoàn Triệu Nhạn sau đây có lẽ cũng đủ phần nào ấn tượng: “Đã có lần lên thăm Nông trường Chư Nghé ở khá xa huyện, tôi rủ Đại tá Lương đi viếng nghĩa trang Nông trường. Ra đi đốt một bó hương rõ to để thắp lên mộ các chiến sĩ, công nhân đã mất trên mảnh đất này vì ốm đau, sốt rét và cả vì bọn phản động FULRO. Đi hết một lượt, bó hương không đủ thắp cho mỗi ngôi một nén. Trở về Nông trường mà lòng buồn rười rượi…”. 
 NGỌC TẤN

Các tin khác

Trường mới ở vùng biên

Trường mới ở vùng biên

(GLO)- Gần một tháng sau lễ khai giảng năm học 2026 - 2027, thầy và trò tại 7 trường phổ thông nội trú Tiểu học và THCS trên tuyến biên giới của tỉnh Gia Lai đang từng bước ổn định nền nếp dạy học.

Bí ẩn giếng cổ ở xã đảo Đà Nẵng

Bí ẩn giếng cổ ở xã đảo Đà Nẵng

Giữa vùng biển đảo quanh năm nắng gió, nơi từng giọt nước ngọt quý hơn vàng, hai giếng cổ dưới chân núi Bàn Than ở Tam Hải vẫn trong veo, mát lành qua hàng trăm năm. 

Những ngày ở xứ Kim Chi: Kỳ 2: 24 giờ ở Jeonju - thủ phủ của Jeollabuk-do

Những ngày ở xứ Kim Chi: Kỳ 2: 24 giờ ở Jeonju - thủ phủ của Jeollabuk-do

(GLO)- Hai lần đổi tàu với gần 3 giờ từ Busan đưa chúng tôi đến Jeonju - thủ phủ và là thành phố cổ yên bình của tỉnh Jeollabuk-do. 24 giờ ở đây đủ để nhận ra sức hấp dẫn của một vùng đất biết giữ gìn ký ức, chăm chút từng góc phố và biến những giá trị truyền thống thành sức hút du lịch.

Những ngày ở xứ Kim Chi: Kỳ 1: Phủ Sơn Quảng vực thị

Những ngày ở xứ Kim Chi: Kỳ 1: Phủ Sơn Quảng vực thị

(GLO)- L.T.S: “Những ngày ở xứ Kim Chi” là ghi chép của tác giả Đoàn Minh Phụng trong hành trình qua Busan, Jeonju và Seoul. Hơn một chuyến đi, loạt bài còn gợi mở những suy ngẫm về cách người Hàn gìn giữ văn hóa, tổ chức du lịch, xây dựng nếp sống văn minh và mở rộng giao lưu với Việt Nam.

Đất Vua xứ Rượu…

Đất Vua xứ Rượu…

(GLO)- Những ngày đầu thu, khi cái nắng miền Trung đã bớt gay gắt, những cơn mưa bắt đầu ghé qua nhiều hơn, đất trời xứ An Nhơn cũng dịu lại. Lúc đầy lúc vơi, sông Côn vẫn lặng lẽ chảy qua những xóm làng, mang theo phù sa và câu chuyện của một vùng đất từng là kinh đô. 

Về nơi cuối nguồn sông Lại

Về nơi cuối nguồn sông Lại

(GLO)- Ở nơi dòng Lại Giang khép lại hành trình để hòa vào Biển Ðông, sông - đồng - rừng - biển cùng hiện diện trong một không gian sống đặc biệt. Ðó là vùng đất Hoài Nhơn Ðông.

Món quà nhỏ nối dài lòng tốt

Món quà nhỏ nối dài lòng tốt

Mỗi lần nấu cơm cho gia đình, chị Trương Thị Phượng lại chuẩn bị thêm một, hai suất. Hôm nay, trong những chiếc hộp được xếp ngay ngắn là cơm trắng, khoai tây xào, gà xào và canh nóng. Chị chụp lại phần cơm, đăng lên nhóm “Cho tặng đồ miễn phí tại Hà Nội”, rồi chờ người cần đến nhận.

Vườn quốc gia Chư Yang Sin có 'nữ tướng rừng xanh'

Vườn quốc gia Chư Yang Sin có 'nữ tướng rừng xanh'

Hơn 16 năm gắn bó với Vườn quốc gia Chư Yang Sin, Hoàng Thị Hương là một trong số ít nữ kiểm lâm của đơn vị. Chị gắn bó với nghề không để chứng minh mình mạnh mẽ, mà bởi đó là công việc chị đã chọn.

Dệt màu xanh ấm no trên miền biên viễn

Dệt màu xanh ấm no trên miền biên viễn

(GLO)- Hơn 41 năm có mặt trên tuyến biên giới phía Tây của Tổ quốc, Binh đoàn 15 đã biến vùng đất cằn cỗi, đầy tàn tích chiến tranh thành vườn cao su, cà phê bạt ngàn.

Nghề xưa vẫn chảy bên dòng sông Côn

Nghề xưa vẫn chảy bên dòng sông Côn

(GLO)- Bên dòng sông Côn, đoạn chảy qua thôn Kiên Mỹ (xã Tây Sơn, tỉnh Gia Lai) từ lâu đã hình thành những xóm nghề gắn với đời sống người dân như làm đậu khuôn, giá đỗ, bún, bánh tráng, các loại bánh truyền thống, trồng rau... 

Phía sau đầu sóng Trường Sa

Phía sau đầu sóng Trường Sa

Bán đảo Cam Ranh nắng gió có một khu đô thị đặc biệt mang tên Khu đô thị Căn cứ quân sự Cam Ranh (Khánh Hòa). Sau những ô cửa bình yên nơi đây là mái ấm của các gia đình quân nhân, trong đó có những người vợ đang ngày ngày thay chồng chăm lo tổ ấm, khi các anh làm nhiệm vụ nơi đầu sóng Trường Sa.

Thầy tôi là nhà cách mạng làm thơ

Thầy tôi là nhà cách mạng làm thơ

Tôi gọi cha tôi bằng 'thầy' vì ông cụ muốn tôi nhớ lại gốc gác của mình từ một làng nào đó ở đất Nghệ An. Người Bắc hay gọi cha là thầy, mẹ là u. Bên nội tôi là người di dân, vào Quảng Ngãi từ mấy trăm năm trước.

Lưu giữ ký ức thời hoa lửa bằng công nghệ

Lưu giữ ký ức thời hoa lửa bằng công nghệ

(GLO)- Chiến tranh đã lùi xa hơn nửa thế kỷ. Những người trực tiếp đi qua những năm tháng khốc liệt ấy, nay đều đã ở tuổi xế chiều. Nhưng thời gian không chờ đợi ai. Khi những nhân chứng dần vắng bóng, cũng là lúc nhiều mảnh ghép ký ức về lịch sử dân tộc không còn cơ hội được kể lại.

Lộ Diêu vươn mình từ gian khó

Lộ Diêu vươn mình từ gian khó

(GLO)- Trước đây, Lộ Diêu (phường Hoài Nhơn Đông) như một thế giới tách biệt với bên ngoài. Ðặc trưng địa hình và cuộc sống của người dân nơi đây được đúc kết qua câu: “Lộ Diêu một biển ba đèo - Gian nan đã vượt, khó nghèo đã qua”.

Tìm nhau giữa hòa bình - Kỳ 1: Cô y tá và vết sẹo trên đầu

Tìm nhau giữa hòa bình - Kỳ 1: Cô y tá và vết sẹo trên đầu

Không ít những đồng đội chung chiến hào những ngày khói lửa, sau ngày hòa bình vì nhiều lý do, họ đã không gặp lại hoặc chưa gặp lại nhau. Những đồng đội cùng quê may mắn là ít nhất mỗi năm lại được gặp nhau vào dịp kỷ niệm ngày nhập ngũ.

“Viết tiếp câu chuyện hòa bình” từ kỷ vật chiến trường

“Viết tiếp câu chuyện hòa bình” từ kỷ vật chiến trường

(GLO)- Luôn xem kỷ vật chiến trường là “gia tài”, song Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Nguyễn Văn Nhương (SN 1948, trú phường Diên Hồng, tỉnh Gia Lai) vẫn quyết định hiến tặng, như lời nhắn gửi đến thế hệ sau về những ngày cả đất nước gian khổ đấu tranh vì độc lập dân tộc.

Làng xưa nay đã đổi thay

Làng xưa nay đã đổi thay

(GLO)- Sau khi về định cư ở vùng đất mới, cuộc sống của người dân 4 làng Plei Pông, Kinh Pêng, Plei Trớ và Plei Hek thuộc xã Chư A Thai (là các làng căn cứ cách mạng trong 2 cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ, còn gọi là 4 làng Ðồn) đã có nhiều đổi thay rõ nét.

Mang con dấu đến bản

Mang con dấu đến bản

Hai đứa con đã 15 và 13 tuổi, nhưng lần đầu tiên, vợ chồng anh Moong Văn Phong mới đi làm khai sinh cho con khi Trung tâm Phục vụ hành chính công xã Nhôn Mai (Nghệ An) mang con dấu đến tận bản để làm thủ tục cho dân.

Những dáng lính vùng biên

Những dáng lính vùng biên

(GLO)- Tôi gặp những người lính trên những chuyến tàu tuần tra ngoài khơi xa, giữa những hải trình dọc dài duyên hải đồng hành, làm chỗ dựa bảo vệ ngư dân và giữ gìn an ninh trật tự trên biển quê hương; gặp họ giữa những vùng biên giới Campuchia heo hút đầy nắng gió.

Ruổi rong đời chăn vịt

Ruổi rong đời chăn vịt

(GLO)- Sau mỗi mùa gặt, những cánh đồng lúa ở các xã An Lương, An Hòa, An Vinh, Tuy Phước… lại rộn ràng bởi đàn vịt hàng nghìn con tìm về kiếm ăn. Gắn với đàn vịt, những người chăn vịt miệt mài rong ruổi qua nhiều cánh đồng, lấy mùa gặt làm nhịp mưu sinh.

Trầm tích sông Ba

Trầm tích sông Ba

(GLO)- Sông Ba đoạn qua xã Ia Dreh (tỉnh Gia Lai) mùa khô, vài con thuyền đánh cá nằm gối đầu nghỉ ngơi trên những doi cát. Chiều xuống, từ những bến sông, người dân vẫn ra tắm mát dù nước cạn tới mức có thể lội ra giữa dòng.

Ký ức buồn đau của những người lầm đường lạc lối

Ký ức buồn đau của những người lầm đường lạc lối

(GLO)- Sau nhiều năm vượt biên, cư trú bất hợp pháp tại Thái Lan, 5 người Việt quê Gia Lai đã bị Cảnh sát Thái Lan bắt giữ và trục xuất về nước. Trở về đoàn tụ với gia đình, họ mang theo ký ức buồn đau về những tháng ngày sống chui lủi, thiếu thốn, bệnh tật nơi đất khách quê người.