Tạc vào đá con đường Hạnh Phúc

Khám phá hành trình lịch sử của con đường Hạnh Phúc, biểu tượng của đoàn kết và khát vọng vươn lên của người Việt Nam.

Mùa xuân năm 1961, trong bài thơ mừng năm mới gửi đồng bào, đồng chí, chiến sĩ cả nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Mừng Việt Nam, mừng thế giới!/ Đường lên hạnh phúc rộng thênh thênh”. Đó là mùa xuân đầu tiên chúng ta thực hiện Nghị quyết Đại hội III (tháng 9/1960) của Đảng.

tac-vao-da.jpg
Những nhát búa phá đá mở đường, xuyên núi Xéo Sảng Lủng năm ấy. Ảnh NVCC

Thời điểm đó, phía đỉnh trời Đông Bắc, tiếng quai đá vẫn đang dồn dập vang lên - cuộc ra quân thực thụ của hơn 2.000 thanh niên xung phong và dân công, cuộc “trường chinh” kéo dài hai triệu ngày công, mở tuyến đường xuyên cao nguyên đá, hay được gọi là tuyến đường Hạnh Phúc.

Theo lời Bác gọi

Ngày 10/9/1959, con đường nối từ cầu Gạc Đì (nay là cầu Phong Quang), qua các huyện Quản Bạ, Yên Minh và tới Đồng Văn chính thức khởi công. Trước đó, Hà Giang chỉ có tuyến Quốc lộ 2 là xe cơ giới đi được.

Trong kế hoạch ban đầu, việc chinh phục cao nguyên đá sẽ do Hà Giang “tự lực cánh sinh”. Chỉ thị số 10 của Khu ủy Việt Bắc ghi: “Chủ yếu là tranh thủ khai thông tới Đồng Văn trong một thời gian tương đối ngắn độ 2-3 năm, cho xe vận tải loại trung bình... Trách nhiệm chính làm con đường này là tỉnh. Toàn bộ công giao nhân dân địa phương để thực hiện”.

Nhưng ngay từ ngày đầu tiên, khó khăn đã mở ra: Phía đầu con đường từ cầu Gạc Đì bị chắn bởi vách đá lớn, sức dân công không thể làm trong ngày một ngày hai. Lực lượng dân công phải bắt đầu công việc tại Km10. Cố Bí thư Tỉnh ủy Hà Tuyên Phạm Đình Dy, khi đó là Ty trưởng Ty Giao thông Hà Giang, Tổng công trình sư đường Hạnh Phúc từng kể: “Khi ấy, Thường vụ Khu ủy Việt Bắc Thanh Phong đã đề xuất luôn: Hà Giang cáng đáng việc này một mình hơi khó. Các anh lo dân công, tôi đảm nhiệm vận động thanh niên xung phong Khu tự trị Việt Bắc”. Tháng 6/1960, lực lượng thanh niên xung phong từ sáu tỉnh Việt Bắc được chia thành sáu C, gồm C-Thái Nguyên, C-Bắc Kạn, C-Cao Bằng, C-Tuyên Quang, C-Lạng Sơn, C-Hà Giang lên đến công trường. Sau này, đoạn Đồng Văn-Mèo Vạc qua Mã Pì Lèng có thêm sự góp mặt của các đoàn Nam Định, Hải Dương.

Ông Hứa Văn Chử, Phó Ban chỉ huy công trường, Bí thư Đoàn Công trường, từng kể rằng, lúc vận động cũng có người đi rồi bỏ trốn. Nên, “những người ở lại, đều là tinh thần thép cả”. Bà Nguyễn Thị Liên, dân tộc Tày, người Yên Minh, dân công nhớ lại: “Lúc đó mình còn trẻ, nghe Đảng và Bác Hồ kêu gọi là mình đi. Nếu sợ khổ, không ai ký vào đơn xin đi làm đường đâu!”. Còn với ông Trần Anh Tuấn, là người Nam Định: “Mình đi ngay, vì nghĩ: Phải vì Hà Giang, vì mảnh đất biên cương”. Ông Nguyễn Văn Toan, một thanh niên xung phong quê Nam Định cũng khẳng định: “Thanh niên chúng tôi đi theo tiếng gọi Bác Hồ, của Đảng, xung phong lên đây thôi”.

Đặc biệt nhất, năm 1963, tuyến đường Hà Giang-Đồng Văn hoàn thành sớm một năm so với dự tính, kế hoạch mở tiếp đường qua Mã Pì Lèng sang Mèo Vạc được thông qua. Trong một buổi sáng, hơn 100 thanh niên xung phong đã tình nguyện tham gia đội Thanh niên dũng cảm (còn gọi là đội Cơ dũng). Theo lời ông Tuấn: “Đội Cơ dũng lúc đó là những người cao to, sức khỏe dạn dầy. Không chóng mặt, ù tai, hoa mắt. Phải tình nguyện và không sợ chết”. Ông Tuấn ví von đội Cơ dũng là những cảm tử quân xung trận, cầm chắc cái chết trong tay cũng phải tiến lên. Ông Nguyễn Sĩ Quốc, Đội trưởng đội Cơ dũng, lên công trường lúc chưa đầy 16 tuổi. Ông khai thêm tuổi để được tham gia cùng các anh chị. Cũng chính ông là gương mặt đầu tiên được chọn trong đội Cơ dũng: “Sợ cũng phải làm, chết cũng phải làm. Phải hoàn thành nhiệm vụ”.

Có thêm “viện binh”, tuyến đường quốc lộ nhanh chóng thấy rõ hình hài. Đầu năm 1960, tuyến cầu Gạc Đì- Bắc Sum hoàn thành. Trong năm 1960, đoạn Bắc Sum - Quản Bạ làm lễ thông xe. Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc thông tin về lễ thông xe trên báo, đã quyết định tặng các thanh niên xung phong và dân công 50 Huy hiệu Bác Hồ. Giữa năm 1960, ông Hứa Văn Chử đại diện cho cả công trường lên Phủ Chủ tịch lĩnh 50 huy hiệu. “Tôi lên mà chẳng cần giấy tờ gì cả. Anh Phạm Ngân, Phó Chánh Văn phòng Chính phủ, hỏi tôi ở đâu, tôi nói ở Hà Giang, vậy là anh ấy đưa tôi 50 Huy hiệu Bác Hồ”, ông Hứa Văn Chử kể. Tới lễ thông xe lần thứ ba ở Yên Minh thì 50 huy hiệu mới phát hết cho các đơn vị, cá nhân xuất sắc.

Những ngày trên công trường, không khí thi đua rất rộn ràng. Ông Hứa Văn Chử hồi tưởng: Lúc đó, “Chỗ khó nhất là Cao Bằng”. Giai đoạn thi công đoạn Bắc Sum lên Quản Bạ cũng là thời điểm nhiều sáng kiến ra đời. C-Cao Bằng-Lạng Sơn nghĩ ra cách dùng gỗ, gắn bát làm tay cầm để kéo đất đá. Nhờ vậy mà việc kéo đất giải phóng đường nhanh hơn, so với việc dùng xẻng xúc. Dân công thì hiến kế xếp đá làm kè. Năm 1960, một dân công tên Thứ, đã cùng với ông Đỗ Văn Long, cán bộ phòng kỹ thuật công trường nhận bằng khen cho sáng kiến làm “xe ki” từ nứa, lạt, gỗ... để tăng hiệu suất đổ đất.

Tháng 3/1961, Bác Hồ lên thăm Hà Giang. Trong cuộc nói chuyện với đồng bào Hà Giang, ngày 27/3/1961, Bác tuyên dương: “Bác khen ngợi các cháu thanh niên sáu tỉnh Việt Bắc xung phong lên đắp con đường Hà Giang - Đồng Văn. Mong các cháu thi đua hoàn thành cho thật tốt nhiệm vụ đó”.

Điều làm nên hạnh phúc

Khi tiến hành khai thác thuộc địa, người Pháp cũng đã từng lên kế hoạch mở đường Hà Giang, nhưng họ chưa từng thành công. Vì thế, kế hoạch làm đường lúc đầu chìm trong hoài nghi. “Bọn phỉ nó nói nếu Chính phủ làm được đường, nó lấy đầu làm chân đi”, ông Hứa Văn Chử cười.

Nhưng sáu năm ấy, hơn 2.000 thanh niên xung phong và dân công đã làm nên kỳ tích, vượt tiến độ đoạn Hà Giang-Đồng Văn tới hơn một năm, tiếp đó là “chiến công” hạ Mã Pì Lèng trong 11 tháng. Nói như ông Phạm Đình Dy, con đường đó là biểu tượng khắc họa bàn tay, khối óc, tinh thần đoàn kết của con người Việt Nam.

Ông Chử tự hào: Giấy vào Đảng, vào Đoàn của thanh niên xung phong công trường, hầu hết, đều do ông ký. “Khi bắt đầu, công trường không có đảng viên nào. Nhưng rất nhanh, tất cả đơn vị đều có đảng viên, chi bộ hết”, nguyên Bí thư Chi đoàn công trường chia sẻ niềm vui.

Ngày lên công trường, ông Hoàng Văn Hộ (C-Lạng Sơn) không biết chữ. Công trường có giáo viên dạy học, mỗi ngày học một ít. Rời công trường, cả 20 người C-Lạng Sơn đều biết đọc, biết viết, biết khai căn, thậm chí... tra được logarit. Giữa công trường, nhiều tình yêu nảy nở, nhiều gia đình nên duyên, nhiều đứa trẻ ra đời. Đó cũng là những niềm hạnh phúc không thể đong đếm, trên mỗi cung đường.

2tacvaoda.jpg
Treo người phá núi, trên dốc Mã Pì Lèng. Ảnh NVCC

Thêm nhiều Hạnh Phúc

Năm 1963, tuyến Hà Giang-Đồng Văn thông xe, những chuyến xe ô-tô đầu tiên đến thị trấn Đồng Văn. Năm 1964, thanh niên xung phong “hạ Mã Pì Lèng”. Đến năm 1965, xe ô-tô đã đến được trung tâm huyện Mèo Vạc.

Sau Hạnh Phúc, nhiều tuyến đường tiếp tục hoàn thành. Ngày 12/1/1978, con đường từ Ma Lé vào Lũng Cú (Đồng Văn) hoàn thiện. Lần đầu tiên, lá cờ Tổ quốc tung bay trên đỉnh núi Rồng, nơi dựng cột cờ Lũng Cũ - cột mốc cực bắc Tổ quốc - sau này.

Báo cáo tổng kết năm 1960 của Công trường Đồng Văn ghi: “Tất cả những sự cống hiến sức người, sức của, họ (nhân dân) nói lên lòng biết ơn sâu sắc Đảng và Chính phủ, biết ơn những bàn tay lao động của bao thanh niên và công nhân các tỉnh đã không quản khó khăn góp phần xây dựng con đường lịch sử mà hàng nghìn năm họ đã mơ ước. Nó là con đường Xã hội Chủ nghĩa, con đường hạnh phúc”. Từ năm 1961, con đường mang tên Hạnh Phúc tới ngày nay.

Đó cũng là lần đầu, ô-tô vào tận Lũng Cú. Đoàn xe 36 chiếc từ các tỉnh đỗ kín con đường, hết cả vòng cua. Cùng với đó là những tuyến đường liên xã tưởng không thể chinh phục, cũng đều lần lượt thông xe: 15 km đoạn Sà Phin lên Ma Lé ở Đồng Văn, sau đó là tuyến cầu Tràng Hương-Sơn Vĩ ở Mèo Vạc, đường Yên Minh-Bạch Đích... Phần nhiều trong số đó là dân công thực hiện, cũng có phần của những thanh niên xung phong, khi hoàn thành con đường đã chọn ở lại, tiếp tục dựng xây Hà Giang.

Năm 2019, tuyến đường Cán Tỷ (Quản Bạ)-Lao Và Chải (Yên Minh) thông xe. Đó chính là tuyến đường ngựa đi năm xưa qua cổng thành Quản Bạ, mà vì hạn chế kỹ thuật, đường Hạnh Phúc không thể chinh phục. Có đường, có điện, cực bắc không còn xa xôi nữa. Bà Dương Thị Hà (C-Bắc Kạn) nghẹn ngào: “Bao nhiêu năm mới đi lại đường Hạnh Phúc. Lúc xuống Yên Minh, nước mắt nó cứ chảy ra thế này”.

“Bây giờ dân sinh dễ dàng so với trước lắm rồi”, bà Triệu Thị Dần (C-Bắc Kạn) cảm thán. Ông Nguyễn Văn Toan (C-Nam Định) thì thấy: Từ ngày có đường Hạnh Phúc, Hà Giang thay đổi “một nghìn phần trăm”, so những cảnh vất vả, thiếu thốn trong ký ức chung.

Ông Nguyễn Sĩ Quốc, người Đội trưởng đội Cơ dũng năm xưa chưa bao giờ có mặt trong bất cứ cuộc vinh danh nào. Nhưng nhiều năm sau, ông vẫn nhớ ở Hà Giang có đường Hạnh Phúc, vẫn nói về những con dốc 12 khúc quanh, những vách đá, những đêm lạnh thấu xương, trong hồi ức đứt quãng. Hai người con, ông đặt tên là Việt và Nam. Con ông kể, “bố nói: Đó là lịch sử!”.

Với ông Hoàng Văn Hộ (C-Lạng Sơn), điều “day dứt” nhất chính là câu nói của liệt sĩ Lương Quốc Chanh - liệt sĩ trẻ nhất trên tuyến đường - trước khi nhắm mắt: “Sau này có ai còn nhớ chúng tôi không?”. “Chúng tôi nhắc lại với các anh là vẫn nhớ. Con đường mà chúng ta đã làm, đã đi vào dĩ vãng lâu rồi, nay được ghi nhận. Như vậy là Đảng, Nhà nước và nhân dân vẫn biết đến chúng ta. Hơn tám vạn đồng bào Yên Minh, Đồng Văn, Quản Bạ trên con đường này biết chúng ta”, ông Hộ ngậm ngùi.

Theo MAI NGUYÊN (NDO)

Các tin khác

Trường mới ở vùng biên

Trường mới ở vùng biên

(GLO)- Gần một tháng sau lễ khai giảng năm học 2026 - 2027, thầy và trò tại 7 trường phổ thông nội trú Tiểu học và THCS trên tuyến biên giới của tỉnh Gia Lai đang từng bước ổn định nền nếp dạy học.

Bí ẩn giếng cổ ở xã đảo Đà Nẵng

Bí ẩn giếng cổ ở xã đảo Đà Nẵng

Giữa vùng biển đảo quanh năm nắng gió, nơi từng giọt nước ngọt quý hơn vàng, hai giếng cổ dưới chân núi Bàn Than ở Tam Hải vẫn trong veo, mát lành qua hàng trăm năm. 

Những ngày ở xứ Kim Chi: Kỳ 2: 24 giờ ở Jeonju - thủ phủ của Jeollabuk-do

Những ngày ở xứ Kim Chi: Kỳ 2: 24 giờ ở Jeonju - thủ phủ của Jeollabuk-do

(GLO)- Hai lần đổi tàu với gần 3 giờ từ Busan đưa chúng tôi đến Jeonju - thủ phủ và là thành phố cổ yên bình của tỉnh Jeollabuk-do. 24 giờ ở đây đủ để nhận ra sức hấp dẫn của một vùng đất biết giữ gìn ký ức, chăm chút từng góc phố và biến những giá trị truyền thống thành sức hút du lịch.

Những ngày ở xứ Kim Chi: Kỳ 1: Phủ Sơn Quảng vực thị

Những ngày ở xứ Kim Chi: Kỳ 1: Phủ Sơn Quảng vực thị

(GLO)- L.T.S: “Những ngày ở xứ Kim Chi” là ghi chép của tác giả Đoàn Minh Phụng trong hành trình qua Busan, Jeonju và Seoul. Hơn một chuyến đi, loạt bài còn gợi mở những suy ngẫm về cách người Hàn gìn giữ văn hóa, tổ chức du lịch, xây dựng nếp sống văn minh và mở rộng giao lưu với Việt Nam.

Đất Vua xứ Rượu…

Đất Vua xứ Rượu…

(GLO)- Những ngày đầu thu, khi cái nắng miền Trung đã bớt gay gắt, những cơn mưa bắt đầu ghé qua nhiều hơn, đất trời xứ An Nhơn cũng dịu lại. Lúc đầy lúc vơi, sông Côn vẫn lặng lẽ chảy qua những xóm làng, mang theo phù sa và câu chuyện của một vùng đất từng là kinh đô. 

Về nơi cuối nguồn sông Lại

Về nơi cuối nguồn sông Lại

(GLO)- Ở nơi dòng Lại Giang khép lại hành trình để hòa vào Biển Ðông, sông - đồng - rừng - biển cùng hiện diện trong một không gian sống đặc biệt. Ðó là vùng đất Hoài Nhơn Ðông.

Món quà nhỏ nối dài lòng tốt

Món quà nhỏ nối dài lòng tốt

Mỗi lần nấu cơm cho gia đình, chị Trương Thị Phượng lại chuẩn bị thêm một, hai suất. Hôm nay, trong những chiếc hộp được xếp ngay ngắn là cơm trắng, khoai tây xào, gà xào và canh nóng. Chị chụp lại phần cơm, đăng lên nhóm “Cho tặng đồ miễn phí tại Hà Nội”, rồi chờ người cần đến nhận.

Vườn quốc gia Chư Yang Sin có 'nữ tướng rừng xanh'

Vườn quốc gia Chư Yang Sin có 'nữ tướng rừng xanh'

Hơn 16 năm gắn bó với Vườn quốc gia Chư Yang Sin, Hoàng Thị Hương là một trong số ít nữ kiểm lâm của đơn vị. Chị gắn bó với nghề không để chứng minh mình mạnh mẽ, mà bởi đó là công việc chị đã chọn.

Dệt màu xanh ấm no trên miền biên viễn

Dệt màu xanh ấm no trên miền biên viễn

(GLO)- Hơn 41 năm có mặt trên tuyến biên giới phía Tây của Tổ quốc, Binh đoàn 15 đã biến vùng đất cằn cỗi, đầy tàn tích chiến tranh thành vườn cao su, cà phê bạt ngàn.

Nghề xưa vẫn chảy bên dòng sông Côn

Nghề xưa vẫn chảy bên dòng sông Côn

(GLO)- Bên dòng sông Côn, đoạn chảy qua thôn Kiên Mỹ (xã Tây Sơn, tỉnh Gia Lai) từ lâu đã hình thành những xóm nghề gắn với đời sống người dân như làm đậu khuôn, giá đỗ, bún, bánh tráng, các loại bánh truyền thống, trồng rau... 

Phía sau đầu sóng Trường Sa

Phía sau đầu sóng Trường Sa

Bán đảo Cam Ranh nắng gió có một khu đô thị đặc biệt mang tên Khu đô thị Căn cứ quân sự Cam Ranh (Khánh Hòa). Sau những ô cửa bình yên nơi đây là mái ấm của các gia đình quân nhân, trong đó có những người vợ đang ngày ngày thay chồng chăm lo tổ ấm, khi các anh làm nhiệm vụ nơi đầu sóng Trường Sa.

Thầy tôi là nhà cách mạng làm thơ

Thầy tôi là nhà cách mạng làm thơ

Tôi gọi cha tôi bằng 'thầy' vì ông cụ muốn tôi nhớ lại gốc gác của mình từ một làng nào đó ở đất Nghệ An. Người Bắc hay gọi cha là thầy, mẹ là u. Bên nội tôi là người di dân, vào Quảng Ngãi từ mấy trăm năm trước.

Lưu giữ ký ức thời hoa lửa bằng công nghệ

Lưu giữ ký ức thời hoa lửa bằng công nghệ

(GLO)- Chiến tranh đã lùi xa hơn nửa thế kỷ. Những người trực tiếp đi qua những năm tháng khốc liệt ấy, nay đều đã ở tuổi xế chiều. Nhưng thời gian không chờ đợi ai. Khi những nhân chứng dần vắng bóng, cũng là lúc nhiều mảnh ghép ký ức về lịch sử dân tộc không còn cơ hội được kể lại.

Lộ Diêu vươn mình từ gian khó

Lộ Diêu vươn mình từ gian khó

(GLO)- Trước đây, Lộ Diêu (phường Hoài Nhơn Đông) như một thế giới tách biệt với bên ngoài. Ðặc trưng địa hình và cuộc sống của người dân nơi đây được đúc kết qua câu: “Lộ Diêu một biển ba đèo - Gian nan đã vượt, khó nghèo đã qua”.

Tìm nhau giữa hòa bình - Kỳ 1: Cô y tá và vết sẹo trên đầu

Tìm nhau giữa hòa bình - Kỳ 1: Cô y tá và vết sẹo trên đầu

Không ít những đồng đội chung chiến hào những ngày khói lửa, sau ngày hòa bình vì nhiều lý do, họ đã không gặp lại hoặc chưa gặp lại nhau. Những đồng đội cùng quê may mắn là ít nhất mỗi năm lại được gặp nhau vào dịp kỷ niệm ngày nhập ngũ.

“Viết tiếp câu chuyện hòa bình” từ kỷ vật chiến trường

“Viết tiếp câu chuyện hòa bình” từ kỷ vật chiến trường

(GLO)- Luôn xem kỷ vật chiến trường là “gia tài”, song Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Nguyễn Văn Nhương (SN 1948, trú phường Diên Hồng, tỉnh Gia Lai) vẫn quyết định hiến tặng, như lời nhắn gửi đến thế hệ sau về những ngày cả đất nước gian khổ đấu tranh vì độc lập dân tộc.

Làng xưa nay đã đổi thay

Làng xưa nay đã đổi thay

(GLO)- Sau khi về định cư ở vùng đất mới, cuộc sống của người dân 4 làng Plei Pông, Kinh Pêng, Plei Trớ và Plei Hek thuộc xã Chư A Thai (là các làng căn cứ cách mạng trong 2 cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ, còn gọi là 4 làng Ðồn) đã có nhiều đổi thay rõ nét.

Mang con dấu đến bản

Mang con dấu đến bản

Hai đứa con đã 15 và 13 tuổi, nhưng lần đầu tiên, vợ chồng anh Moong Văn Phong mới đi làm khai sinh cho con khi Trung tâm Phục vụ hành chính công xã Nhôn Mai (Nghệ An) mang con dấu đến tận bản để làm thủ tục cho dân.

Những dáng lính vùng biên

Những dáng lính vùng biên

(GLO)- Tôi gặp những người lính trên những chuyến tàu tuần tra ngoài khơi xa, giữa những hải trình dọc dài duyên hải đồng hành, làm chỗ dựa bảo vệ ngư dân và giữ gìn an ninh trật tự trên biển quê hương; gặp họ giữa những vùng biên giới Campuchia heo hút đầy nắng gió.

Ruổi rong đời chăn vịt

Ruổi rong đời chăn vịt

(GLO)- Sau mỗi mùa gặt, những cánh đồng lúa ở các xã An Lương, An Hòa, An Vinh, Tuy Phước… lại rộn ràng bởi đàn vịt hàng nghìn con tìm về kiếm ăn. Gắn với đàn vịt, những người chăn vịt miệt mài rong ruổi qua nhiều cánh đồng, lấy mùa gặt làm nhịp mưu sinh.

Trầm tích sông Ba

Trầm tích sông Ba

(GLO)- Sông Ba đoạn qua xã Ia Dreh (tỉnh Gia Lai) mùa khô, vài con thuyền đánh cá nằm gối đầu nghỉ ngơi trên những doi cát. Chiều xuống, từ những bến sông, người dân vẫn ra tắm mát dù nước cạn tới mức có thể lội ra giữa dòng.

Ký ức buồn đau của những người lầm đường lạc lối

Ký ức buồn đau của những người lầm đường lạc lối

(GLO)- Sau nhiều năm vượt biên, cư trú bất hợp pháp tại Thái Lan, 5 người Việt quê Gia Lai đã bị Cảnh sát Thái Lan bắt giữ và trục xuất về nước. Trở về đoàn tụ với gia đình, họ mang theo ký ức buồn đau về những tháng ngày sống chui lủi, thiếu thốn, bệnh tật nơi đất khách quê người.