Người anh hùng giữ đảo Cồn Cỏ

Năm 1961, cũng như những chàng trai cô gái tuổi 18 đôi mươi của quê hương Quảng Bình, thanh niên Lê Hữu Trạc ở xã Xuân Ninh, huyện Quảng Ninh tình nguyện lên đường nhập ngũ, chiến đấu chống Đế quốc Mỹ bảo vệ Tổ quốc. Ông được biên chế vào Đại đội Lê Hồng Phong, Tiểu đoàn 4, Sư đoàn 341 đóng quân ở Vĩnh Linh, Quảng Trị.



Tuy nhiên, ông ở đây không được lâu. Năm 1965, Lê Hữu Trạc tiếp tục khoác ba lô vượt biển ra chiến đấu bảo vệ đảo Cồn Cỏ.

Đó là một đảo nhỏ thuộc tỉnh Quảng Trị, nằm ở cửa ngõ phía Nam Vịnh Bắc bộ, cách đất liền khoảng 17 hải lý, diện tích chưa đến 4 cây số vuông. Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Cồn Cỏ giữ vị trí vô cùng quan trọng, là vọng gác tiền tiêu của Miền Bắc. Cho rằng, xóa được Cồn Cỏ nghĩa là đã mở được một cánh cửa vào miền Bắc Việt Nam, đế quốc Mỹ tập trung hỏa lực hòng hủy diệt đảo.


 

Thương binh Lê Hữu Trạc và bà Kim Thị Mão tại Lễ đón nhận danh hiệu Anh hùng lực lượng Vũ trang nhân dân
Thương binh Lê Hữu Trạc và bà Kim Thị Mão tại Lễ đón nhận danh hiệu Anh hùng lực lượng Vũ trang nhân dân


Để chặn đứng âm mưu của đế quốc Mỹ, năm 1965, Đại đội Lê Hồng Phong của Lê Hữu Trạc được lệnh cử một trung đội ra chiến đấu bảo vệ đảo. Thời gian luân phiên được quy định là 2 tháng. Câu hỏi: Trung đội nào sẽ được đi trước? Làm nóng bầu không khí toàn đơn vị. Những bức tâm thư viết bằng máu, những giải pháp nhằm bám trụ trên đảo lâu nhất được đề xuất. Và, trung đội của Lê Hữu Trạc được chọn là đơn vị đi đầu. Trước khi lên thuyền ra đảo, cả trung đội gồm 30 chiến sỹ tự cạo trọc đầu, trở thành “đoàn binh không mọc tóc”.  Lý do chính là để tiết kiệm nguồn nước tắm gội vốn rất khan hiếm trên đảo. Tưởng chỉ xa đất liền 2 tháng nhưng chuyến đi của Lê Hữu Trạc và đồng đội đã kéo dài đến... 1.000 ngày.

Lịch sử ghi lại: Từ năm 1964 đến năm 1968, không lực Hoa Kỳ ném xuống Cồn Cỏ trên 1,3 vạn quả bom các loại, hàng vạn quả rốc-két; 172 lần tàu chiến pháo kích trên 4 nghìn quả đạn pháo. Bình quân mỗi cán bộ, chiến sỹ hứng chịu đến hơn 39 tấn bom đạn; mỗi ha đất chịu 22,6 tấn bom đạn. Trong lúc đó để đảm bảo đời sống sinh hoạt và chiến đấu của cán bộ chiến sỹ, tất cả nhu yếu phẩm, vũ khí đạn dược đều phải được tiếp tế từ đất liền. Có thời điểm do tình hình chiến sự ác liệt, địch ráo riết vây hãm phong tỏa, thời tiết lại phức tạp, con đường tiếp tế giữa đất liền với đảo gần như bị chặn đứng trong hàng tháng trời. Gạo, nước ngọt đều cạn kiệt, đến cả vũ khí cũng rất thiếu thốn. Thực trạng đó tưởng sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe và khí thế chiến đấu của chiến sỹ ta, nhưng lạ kỳ thay tất cả vẫn không hề nao núng. Họ đã không gục ngã bởi bom đạn quân thù, cũng không hề gục ngã vì khó khăn thiếu thốn về vật chất. Đảo bị xới tung. Cỏ cây bị cháy rụi. Nhưng, Cồn Cỏ vẫn hiên ngang giữa muôn trùng sóng.


 

 Giấy chứng nhận Dũng sỹ của ông Lê Hữu Trạc
Giấy chứng nhận Dũng sỹ của ông Lê Hữu Trạc



Anh hùng lực lượng vũ trang, thương binh Lê Hữu Trạc kể lại rằng: “Vấn đề khó khăn nhất ở các đảo nhỏ giữa biển khơi luôn luôn là nước ngọt. Có thời điểm bom Mỹ phá tan các bể chứa nước của chúng tôi, cả đảo khô khát, bộ đội phải chặt chuối rừng vắt nước uống. Quả thật là nếu không có những hy sinh lớn lao của quân và dân Vĩnh Linh thì chúng tôi khó lòng hoàn thành nhiệm vụ. Mưa bom bão đạn là vậy, máy bay, tàu chiến địch vần vũ, quần thảo suốt ngày đêm nhưng những đoàn thuyền cảm tử vẫn ra khơi, những chuyến hàng tiếp tế vẫn cập đảo. 200 dân quân, nhân dân Vĩnh Linh, Quảng Trị đã hy sinh và mất tích trên biển. Nhiều bữa cơm nghẹn ngào chan nước mắt... Những trận đánh của chúng tôi vì thế mà càng quyết liệt hơn!”.

 

 Thương binh Lê Hữu Trạc thời kỳ chiến đấu ở Quảng Trị
Thương binh Lê Hữu Trạc thời kỳ chiến đấu ở Quảng Trị.


Đáp trả sự điên cuồng của không quân, hải quân Mỹ, cán bộ chiến sỹ đảo Cồn Cỏ đã dũng cảm chiến đấu 841 trận và ghi nhiều chiến công vang dội: Bắn rơi 48 máy bay các loại, bắn cháy và chìm 17 tàu chiến... góp phần buộc Mỹ phải ngừng ném bom phá hoại miền Bắc. Đảo nhỏ Cồn Cỏ vinh dự 2 lần được Đảng, Nhà nước tuyên dương danh hiệu Đơn vị Anh hùng. Bác Hồ gửi thư khen cán bộ, chiến sỹ tham gia chiến đấu bảo vệ đảo và tặng hai câu thơ: “Cồn Cỏ nở đầy hoa thắng trận/ Đánh cho tan xác giặc Huê Kỳ”. Ông Lê Hữu Trạc ba lần được công nhận là “Dũng sĩ”.

Năm 1968, đế quốc Mỹ xuống thang đánh phá miền Bắc, ông Lê Hữu Trạc được điều động trở về đất liền. Ông tiếp tục chiến đấu, xây dựng Đại đội Lê Hồng Phong trở thành Đại đội Anh hùng. Một thời gian sau ông là Tham mưu trưởng Tiểu đoàn 4, E270, Quân khu IV. Thời gian này, Mỹ vẫn chưa thôi những âm mưu phá hoại miền Bắc. Các cuộc đổ bộ của địch vẫn lén lút diễn ra trên cả đường bộ, đường không và đường biển dọc theo giới tuyến. Đóng quân ở cửa ngõ miền Bắc, đơn vị của ông được ví như một lực lượng đa chức năng, vừa chiến đấu trực tiếp với kẻ thù, vừa phải tuần tra, trinh sát ngăn chặn kịp thời sự xâm nhập trái phép của biệt kích, thám báo Mỹ - Ngụy. Trong một chuyến công tác chống địch đổ bộ bằng đường không ở phía tây Vĩnh Linh, ông và đồng đội vướng bom Mỹ. Một chiến sỹ hy sinh, thi thể không còn nguyên vẹn. Ông bị bom hất tung và làm tổn thương đôi mắt.

“Từ Quảng Trị tôi được chuyển về tuyến sau. Đầu tiên là trạm 44 ở Mai Thủy, Lệ Thủy, Quảng Bình. Sau đó là Bệnh viện Quân khu 4 ở Nghệ An. Mãi 1 tháng sau tôi mới ra tới Bệnh viện mắt Hà Nội. Vì sức ép của bom quá lớn, mắt bị tổn thương nặng, các bệnh viện tiền phương không có phương tiện xử lý kịp thời và thời gian di chuyển từ Quảng Trị ra đến Hà Nội quá dài, nên các bác sỹ không thể cứu được đôi mắt của tôi nữa. Tôi được chuyển về Trại an dưỡng thương binh nặng Hà Tây. Cuộc sống chìm vào bóng tối từ đây. Năm đó, tôi mới 28 tuổi. Phơi phới sức trai và giàu nhiệt huyết nhưng phải lui về tuyến sau và không còn có cơ hội để trở lại chiến trường. Đó là nỗi buồn quá lớn!” - ông Trạc nuối tiếc.

Những tưởng cuộc đời sẽ chỉ còn bóng tối, xa quê hương, xa gia đình và đừng bao giờ dám nghĩ đến chuyện tình yêu, vậy mà anh thương binh hạng 1/4 Lê Hữu Trạc lại bất ngờ gặp được nhân duyên của mình nơi đất khách. Bà Kim Thị Mão là người con gái quê hương Hà Tây vào trại giúp đỡ thương binh nặng. Chỉ nghe giọng nói thôi, anh thương binh mù đã cảm mến người con gái ấy. Nói xa... nói gần... Và những cánh thư đi... Nét chữ của anh thương binh mù vụng về mà chân thật đã làm rung động trái tim cô gái trẻ. “Cô ấy đẹp! Nào là da trắng, là tóc dài, là cười duyên... mê ly lắm! Là đồng đội tôi tả cô ấy thế. Tôi có thấy gì đâu mà bảo đẹp. Nhưng qua gặp gỡ, chuyện trò, tôi cảm nhận được trái tim của cô ấy, tấm lòng của cô ấy và quyết tâm của cô ấy. Rất may là tôi cảm nhận đúng. Đó là người con gái có trái tim nhân hậu và tấm lòng rộng mở. Tôi hỏi: “Yêu anh mù, em có sợ người ta cười không?”. Cô ấy nói rằng “Em không sợ người ta cười chê, cũng không sợ lấy anh mù thì khổ. Em chỉ sợ chúng ta không có tình thương thôi!”. Ơ! Tưởng chi mà khó, tình thương tôi có thừa! Vậy nên tôi mới dám nói lời yêu rồi lễ cưới được tổ chức ngay tại Trại điều dưỡng. Và cuối cùng là “Theo anh, em thì về...”.


 

 Đảo Cồn Cỏ ngày nay
Đảo Cồn Cỏ ngày nay



Năm 1972, vợ chồng anh thương binh mù Lê Hữu Trạc - Kim Thị Mão đưa nhau trở về quê tại xã Xuân Ninh, huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình xây dựng cuộc sống mới. Bà trở thành nguồn sáng của đời ông và những nguồn sáng bé bỏng từ tình yêu của họ lần lượt chào đời. Về quê cùng đôi mắt đã bị mù nhưng với tinh thần của người lính, thương binh Lê Hữu Trạc không chấp nhận ngồi chờ những ưu đãi của đất nước, lại càng không công thần, đòi hỏi. Ông nói rằng: “Tôi đã vượt qua 1.000 ngày gian khổ, hiểm nguy để bảo vệ đảo Cồn Cỏ, bom đạn quân thù trút xuống ngày đêm nhưng chúng tôi không hề sợ hãi. Vậy thì hôm nay đất nước đã hòa bình rồi, những khó khăn hiện tại có là gì đâu mà tôi phải chùn bước. Đã là người lính thì gan không núng, chí không sờn trước mọi gian lao thử thách. Chiến tranh đã lấy đi của tôi đôi mắt nhưng cuộc đời đã cho tôi một người vợ hiền”.

 Ông tham gia công tác ở Hội người mù tỉnh Quảng Bình và được bầu giữ chức Chủ tịch Hội. Nhớ lời Bác Hồ căn dặn thương binh “Thương binh tàn nhưng không phế”, trong thời gian công tác ở đây, ông vẫn mang theo tác phong, tinh thần người lính để cống hiến, giúp nhiều người mù trong tỉnh vượt qua mặc cảm, xóa bỏ tư tưởng trông chờ, ỷ lại sự cưu mang của xã hội, tự mình vượt qua khó khăn, bằng cách tạo nhiều công ăn việc làm cho họ. Với sự dẫn dắt của ông, rất nhiều người mù ở tỉnh Quảng Bình đã có việc làm và thu nhập ổn định. Có những bệnh nhân mù mắc bệnh hiểm nghèo cũng được ông giúp đỡ, đào tạo việc làm và đưa vào làm việc tại các cơ sở sản xuất do Hội người mù tỉnh thành lập. Ông trở thành chỗ dựa tin cậy, là cứu cánh yêu thương cho người mù ở Quảng Bình.

Vợ ông, bà Kim Thị Mão là người kề vai sát cánh hỗ trợ ông trong công tác và đời sống, vừa nuôi dạy các con trưởng thành vừa nhiệt tình trong các hoạt động xã hội ở địa phương. Gia đình dù khó khăn nhưng ấm áp hạnh phúc. Với những cống hiến trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, ngày 26-4-2018, Chủ tịch nước CHXHCN Việt Nam đã có Quyết định số 621/QĐ-CTN phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân cho thương binh hạng 1/4 Lê Hữu Trạc. Nói về niềm vinh dự này, thương binh Lê Hữu Trạc không quên nhớ những người đồng đội, những chiến binh không mọc tóc trên đảo nhỏ năm nào: “Chiến tranh đã lùi xa nhưng không ai quên chúng tôi! Danh hiệu cao quý này do đồng đội viết nên cho tôi đó, nên không chỉ trao cho riêng tôi mà cho cả những anh em đã nằm lại nơi đảo xa Cồn Cỏ. Tôi xin là người đại diện đón nhận niềm vinh dự tự hào này!”.

 

Theo TRƯƠNG THU HIỀN (CAND)

https://antg.cand.com.vn/Tu-lieu-antg/nguoi-anh-hung-giu-dao-con-co-i670095/

Các tin khác

Trường mới ở vùng biên

Trường mới ở vùng biên

(GLO)- Gần một tháng sau lễ khai giảng năm học 2026 - 2027, thầy và trò tại 7 trường phổ thông nội trú Tiểu học và THCS trên tuyến biên giới của tỉnh Gia Lai đang từng bước ổn định nền nếp dạy học.

Bí ẩn giếng cổ ở xã đảo Đà Nẵng

Bí ẩn giếng cổ ở xã đảo Đà Nẵng

Giữa vùng biển đảo quanh năm nắng gió, nơi từng giọt nước ngọt quý hơn vàng, hai giếng cổ dưới chân núi Bàn Than ở Tam Hải vẫn trong veo, mát lành qua hàng trăm năm. 

Những ngày ở xứ Kim Chi: Kỳ 2: 24 giờ ở Jeonju - thủ phủ của Jeollabuk-do

Những ngày ở xứ Kim Chi: Kỳ 2: 24 giờ ở Jeonju - thủ phủ của Jeollabuk-do

(GLO)- Hai lần đổi tàu với gần 3 giờ từ Busan đưa chúng tôi đến Jeonju - thủ phủ và là thành phố cổ yên bình của tỉnh Jeollabuk-do. 24 giờ ở đây đủ để nhận ra sức hấp dẫn của một vùng đất biết giữ gìn ký ức, chăm chút từng góc phố và biến những giá trị truyền thống thành sức hút du lịch.

Những ngày ở xứ Kim Chi: Kỳ 1: Phủ Sơn Quảng vực thị

Những ngày ở xứ Kim Chi: Kỳ 1: Phủ Sơn Quảng vực thị

(GLO)- L.T.S: “Những ngày ở xứ Kim Chi” là ghi chép của tác giả Đoàn Minh Phụng trong hành trình qua Busan, Jeonju và Seoul. Hơn một chuyến đi, loạt bài còn gợi mở những suy ngẫm về cách người Hàn gìn giữ văn hóa, tổ chức du lịch, xây dựng nếp sống văn minh và mở rộng giao lưu với Việt Nam.

Đất Vua xứ Rượu…

Đất Vua xứ Rượu…

(GLO)- Những ngày đầu thu, khi cái nắng miền Trung đã bớt gay gắt, những cơn mưa bắt đầu ghé qua nhiều hơn, đất trời xứ An Nhơn cũng dịu lại. Lúc đầy lúc vơi, sông Côn vẫn lặng lẽ chảy qua những xóm làng, mang theo phù sa và câu chuyện của một vùng đất từng là kinh đô. 

Về nơi cuối nguồn sông Lại

Về nơi cuối nguồn sông Lại

(GLO)- Ở nơi dòng Lại Giang khép lại hành trình để hòa vào Biển Ðông, sông - đồng - rừng - biển cùng hiện diện trong một không gian sống đặc biệt. Ðó là vùng đất Hoài Nhơn Ðông.

Món quà nhỏ nối dài lòng tốt

Món quà nhỏ nối dài lòng tốt

Mỗi lần nấu cơm cho gia đình, chị Trương Thị Phượng lại chuẩn bị thêm một, hai suất. Hôm nay, trong những chiếc hộp được xếp ngay ngắn là cơm trắng, khoai tây xào, gà xào và canh nóng. Chị chụp lại phần cơm, đăng lên nhóm “Cho tặng đồ miễn phí tại Hà Nội”, rồi chờ người cần đến nhận.

Vườn quốc gia Chư Yang Sin có 'nữ tướng rừng xanh'

Vườn quốc gia Chư Yang Sin có 'nữ tướng rừng xanh'

Hơn 16 năm gắn bó với Vườn quốc gia Chư Yang Sin, Hoàng Thị Hương là một trong số ít nữ kiểm lâm của đơn vị. Chị gắn bó với nghề không để chứng minh mình mạnh mẽ, mà bởi đó là công việc chị đã chọn.

Dệt màu xanh ấm no trên miền biên viễn

Dệt màu xanh ấm no trên miền biên viễn

(GLO)- Hơn 41 năm có mặt trên tuyến biên giới phía Tây của Tổ quốc, Binh đoàn 15 đã biến vùng đất cằn cỗi, đầy tàn tích chiến tranh thành vườn cao su, cà phê bạt ngàn.

Nghề xưa vẫn chảy bên dòng sông Côn

Nghề xưa vẫn chảy bên dòng sông Côn

(GLO)- Bên dòng sông Côn, đoạn chảy qua thôn Kiên Mỹ (xã Tây Sơn, tỉnh Gia Lai) từ lâu đã hình thành những xóm nghề gắn với đời sống người dân như làm đậu khuôn, giá đỗ, bún, bánh tráng, các loại bánh truyền thống, trồng rau... 

Phía sau đầu sóng Trường Sa

Phía sau đầu sóng Trường Sa

Bán đảo Cam Ranh nắng gió có một khu đô thị đặc biệt mang tên Khu đô thị Căn cứ quân sự Cam Ranh (Khánh Hòa). Sau những ô cửa bình yên nơi đây là mái ấm của các gia đình quân nhân, trong đó có những người vợ đang ngày ngày thay chồng chăm lo tổ ấm, khi các anh làm nhiệm vụ nơi đầu sóng Trường Sa.

Thầy tôi là nhà cách mạng làm thơ

Thầy tôi là nhà cách mạng làm thơ

Tôi gọi cha tôi bằng 'thầy' vì ông cụ muốn tôi nhớ lại gốc gác của mình từ một làng nào đó ở đất Nghệ An. Người Bắc hay gọi cha là thầy, mẹ là u. Bên nội tôi là người di dân, vào Quảng Ngãi từ mấy trăm năm trước.

Lưu giữ ký ức thời hoa lửa bằng công nghệ

Lưu giữ ký ức thời hoa lửa bằng công nghệ

(GLO)- Chiến tranh đã lùi xa hơn nửa thế kỷ. Những người trực tiếp đi qua những năm tháng khốc liệt ấy, nay đều đã ở tuổi xế chiều. Nhưng thời gian không chờ đợi ai. Khi những nhân chứng dần vắng bóng, cũng là lúc nhiều mảnh ghép ký ức về lịch sử dân tộc không còn cơ hội được kể lại.

Lộ Diêu vươn mình từ gian khó

Lộ Diêu vươn mình từ gian khó

(GLO)- Trước đây, Lộ Diêu (phường Hoài Nhơn Đông) như một thế giới tách biệt với bên ngoài. Ðặc trưng địa hình và cuộc sống của người dân nơi đây được đúc kết qua câu: “Lộ Diêu một biển ba đèo - Gian nan đã vượt, khó nghèo đã qua”.

Tìm nhau giữa hòa bình - Kỳ 1: Cô y tá và vết sẹo trên đầu

Tìm nhau giữa hòa bình - Kỳ 1: Cô y tá và vết sẹo trên đầu

Không ít những đồng đội chung chiến hào những ngày khói lửa, sau ngày hòa bình vì nhiều lý do, họ đã không gặp lại hoặc chưa gặp lại nhau. Những đồng đội cùng quê may mắn là ít nhất mỗi năm lại được gặp nhau vào dịp kỷ niệm ngày nhập ngũ.

“Viết tiếp câu chuyện hòa bình” từ kỷ vật chiến trường

“Viết tiếp câu chuyện hòa bình” từ kỷ vật chiến trường

(GLO)- Luôn xem kỷ vật chiến trường là “gia tài”, song Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Nguyễn Văn Nhương (SN 1948, trú phường Diên Hồng, tỉnh Gia Lai) vẫn quyết định hiến tặng, như lời nhắn gửi đến thế hệ sau về những ngày cả đất nước gian khổ đấu tranh vì độc lập dân tộc.

Làng xưa nay đã đổi thay

Làng xưa nay đã đổi thay

(GLO)- Sau khi về định cư ở vùng đất mới, cuộc sống của người dân 4 làng Plei Pông, Kinh Pêng, Plei Trớ và Plei Hek thuộc xã Chư A Thai (là các làng căn cứ cách mạng trong 2 cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ, còn gọi là 4 làng Ðồn) đã có nhiều đổi thay rõ nét.

Mang con dấu đến bản

Mang con dấu đến bản

Hai đứa con đã 15 và 13 tuổi, nhưng lần đầu tiên, vợ chồng anh Moong Văn Phong mới đi làm khai sinh cho con khi Trung tâm Phục vụ hành chính công xã Nhôn Mai (Nghệ An) mang con dấu đến tận bản để làm thủ tục cho dân.

Những dáng lính vùng biên

Những dáng lính vùng biên

(GLO)- Tôi gặp những người lính trên những chuyến tàu tuần tra ngoài khơi xa, giữa những hải trình dọc dài duyên hải đồng hành, làm chỗ dựa bảo vệ ngư dân và giữ gìn an ninh trật tự trên biển quê hương; gặp họ giữa những vùng biên giới Campuchia heo hút đầy nắng gió.

Ruổi rong đời chăn vịt

Ruổi rong đời chăn vịt

(GLO)- Sau mỗi mùa gặt, những cánh đồng lúa ở các xã An Lương, An Hòa, An Vinh, Tuy Phước… lại rộn ràng bởi đàn vịt hàng nghìn con tìm về kiếm ăn. Gắn với đàn vịt, những người chăn vịt miệt mài rong ruổi qua nhiều cánh đồng, lấy mùa gặt làm nhịp mưu sinh.

Trầm tích sông Ba

Trầm tích sông Ba

(GLO)- Sông Ba đoạn qua xã Ia Dreh (tỉnh Gia Lai) mùa khô, vài con thuyền đánh cá nằm gối đầu nghỉ ngơi trên những doi cát. Chiều xuống, từ những bến sông, người dân vẫn ra tắm mát dù nước cạn tới mức có thể lội ra giữa dòng.

Ký ức buồn đau của những người lầm đường lạc lối

Ký ức buồn đau của những người lầm đường lạc lối

(GLO)- Sau nhiều năm vượt biên, cư trú bất hợp pháp tại Thái Lan, 5 người Việt quê Gia Lai đã bị Cảnh sát Thái Lan bắt giữ và trục xuất về nước. Trở về đoàn tụ với gia đình, họ mang theo ký ức buồn đau về những tháng ngày sống chui lủi, thiếu thốn, bệnh tật nơi đất khách quê người.