Chuyện tình xuyên xà lim của người tử tù Côn Đảo

Một chuyện tình ly kỳ, trắc trở và đặc biệt trong lịch sử nhà tù Côn Đảo. Chuyện tình ấy vượt qua bao phong ba bão táp, qua những cung bậc dạt dào của cảm xúc, qua cả những thời khắc kinh hoàng nhất của sự tra tấn và chuẩn bị ra pháp trường...

3 lần ngỏ lời yêu không thành

Ở tuổi ngoài 90, ông bà vẫn tự chăm nhau như thời mới cưới. Ông vẫn dành cho bà một tình yêu trên tất cả cuộc đời mình. Dù hơn nửa thế kỷ đã trôi qua, nhưng chuyện tình của cựu tử tù Côn Đảo Lê Hồng Tư và Nguyễn Thị Châu vẫn luôn là câu chuyện lấy đi bao cảm xúc của con người, một cuộc tình đẹp như cổ tích trong chiến tranh, giữa lao tù và cái chết.

Đám cưới cổ tích của hai chiến sĩ cách mạng Lê Hồng Tư và Nguyễn Thị Châu.

Đám cưới cổ tích của hai chiến sĩ cách mạng Lê Hồng Tư và Nguyễn Thị Châu.

Cô gái trẻ Nguyễn Thị Châu xuất thân từ gia đình lao động nghèo nhưng được cha mẹ giáo dục, định hướng đi theo cách mạng nên trong tư tưởng, tâm trí cô gái mới lớn đã hình thành lòng yêu nước nồng nàn, căm thù giặc và bè lũ tay sai bán nước. Năm 1955, con đường cách mạng của nữ chiến sĩ trẻ mới bắt đầu, đó là thời điểm cô rời Biên Hòa (Đồng Nai) lên Sài Gòn nhập học trường Văn Lang. Tại đây, Châu gặp lớp trưởng Lê Hồng Tư, một đoàn viên Đoàn Thanh niên cứu quốc, quê ở Bình Chánh (Sài Gòn), làm nghề thợ điện, được cách mạng tìm cách đưa vào trường học để gây dựng phong trào trong học sinh, sinh viên.

Ngày đầu tiên nhìn thấy mái tóc dài thướt tha, óng đẹp của thiếu nữ đang thì con gái, lớp trưởng Lê Hồng Tư không khỏi chộn rộn. Anh hăng hái hướng dẫn, chỉ bảo từng chút một cho Châu làm thủ tục nhập học.

Biết được gia cảnh khó khăn của Châu không đủ tiền trọ học, phải ở nhờ trong ngôi miếu nhỏ một thân một mình, Lê Hồng Tư càng cảm thương hơn. Anh bàn với một bạn trong lớp giúp đỡ Châu tìm một nơi ở mới sáng sủa hơn, có bạn có bè, phòng trừ ốm đau đột xuất. Vậy là Châu được tạo điều kiện trọ cùng nhà một người bạn học trong lớp, bạn này học hơi yếu nên Châu có nhiệm vụ kèm cặp, giúp đỡ tiến bộ.

Nhìn Nguyễn Thị Châu mỗi ngày lên lớp, tình cảm đơn phương trong Lê Hồng Tư cứ ngày một lớn dần. Anh thường lui tới nơi cô Châu ở để hỏi thăm và cũng để đỡ nhớ nhung. Rồi cứ lễ, tết anh lại về quê cô chơi. Anh nói chuyện vui vẻ, tế nhị với các anh em của Châu nên gia đình ai cũng quý mến.

Phong trào hoạt động ngày một dâng cao, tổ chức yêu cầu Lê Hồng Tư phải chuyển đi nơi khác còn Nguyễn Thị Châu phải thi rớt tú tài một (hết lớp 11) để ở lại làm nòng cốt cho phong trào. Hiểu rõ yêu cầu của tổ chức nhưng khi nghĩ đến gia đình thì Châu cũng băn khoăn vì đã hứa với mẹ là sẽ sớm tốt nghiệp để đi làm giúp mẹ nuôi 5 em.

Thương thầm nhớ trộm cô Châu từ bấy lâu nay, Lê Hồng Tư không dám bày tỏ. Người bạn ở cùng với Châu thấy tình hình không ổn liền nhắc nhở Hồng Tư: “Anh thương cô ấy thì bày tỏ đi, kẻo mất người đẹp. Anh sắp phải rời xa nơi này đồng nghĩa với việc không được học cùng, vui chơi cùng Châu nữa”.

Một ngày mưa Sài Gòn nhẹ nhàng giăng hạt, trời đất thâm trầm khiến lòng anh Tư cứ nao nao một cảm giác khó tả. Ngày cuối tuần, bạn ở cùng Châu về nhà nên đây là thời cơ tốt nhất để anh bày tỏ tình cảm của mình. Châu một mình cặm cụi bên chồng sách, Tư bước vào mà cô không hay. Lấy hết can đảm, Hồng Tư xin Châu ít phút trình bày tâm sự. Bằng giọng nhẹ nhàng, run run, Tư nói: “Hôm nay tui đến đây có chuyện muốn nói với em để xin ý kiến của em. Hơn năm nay, tui có thương một người con gái. Người ấy rất đẹp lại ngoan hiền, học giỏi và cùng lý tưởng với mình. Châu thấy có phù hợp không?”. Châu nãy giờ vẫn lắng nghe, xong hồn nhiên hỏi: “Thế thì tốt quá, cô gái ấy tên gì vậy?”. Hồng Tư ngập ngừng giây lát rồi nói: “Người ấy chính là Châu”. Nhìn thật lâu vào mắt Hồng Tư, Châu trả lời: “Em không có ý định lập gia đình, em đã hứa với mẹ lo học tập thật tốt để sau này còn về giúp mẹ lo cho các em”.

Vợ chồng ông Tư ngày mới cưới.

Vợ chồng ông Tư ngày mới cưới.

Hồng Tư hy vọng bao nhiêu thì lại hụt hẫng bấy nhiêu, anh không ngờ kết quả lại không như ý mình mong muốn. Tư lẳng lặng bước lên cầu thang, ngoái lại nhìn xuống vẫn thấy Châu cặm cụi làm bài tập. Lòng anh quặn thắt, một nỗi đau cứ mênh mang, sâu lắng lan khắp cơ thể anh. Lần đầu tiên trong đời, Hồng Tư cảm nhận trọn vẹn nỗi đau và sự thất vọng đến như vậy. Anh không từ bỏ, vẫn âm thầm đeo đuổi và luôn hướng về Châu. Rồi những lần gặp sau đó, hai người trao đổi công việc, truyền đạt nhiệm vụ cho nhau, cuối cùng, Hồng Tư lại hỏi: “Hơn năm qua, tình cảm của em có tiến triển gì không?”. Châu vẫn lắc đầu.

Năm 1961, do bị chỉ điểm, Nguyễn Thị Châu bị “đoàn công tác đặc biệt” của Ngô Đình Cẩn vây bắt rồi đưa vào nhà giam tại Sở thú Sài Gòn. Trong tù, cô bị tra tấn, đánh đập dã man, từng chết đi sống lại nhiều lần nhưng chính lòng kiên trung đã giúp cô gượng dậy.

Sau đó ít lâu, Lê Hồng Tư cũng bị địch bắt, bị tòa án quân sự Sài Gòn tuyên án tử hình.

Một ngày buồn thâm u trong căn phòng biệt giam, Nguyễn Thị Châu được đưa vào cho tờ báo. Trên trang nhất có đăng tin: “Ngày 23/5/1962, tòa quân sự đặc biệt xử vụ Hội liên hiệp sinh viên học sinh ám sát chết nhiều sĩ quan Mỹ và tấn công cả xe Đại sứ Mỹ giữa ban ngày. Tòa xử 4 án tử hình: Lê Quang Vịnh, Lê Hồng Tư... Đọc chưa hết, nước mắt cô nghẹn ứ bên trong, cô không dám khóc vì sợ mắt sưng lên, bọn cai ngục sẽ biết. Ngay lúc này đây, lòng cảm phục biến thành tình yêu mãnh liệt với người tử tù đang chờ ngày lên máy chém là Lê Hồng Tư. Không do dự gì nữa, Nguyễn Thị Châu báo cáo với chi bộ tù nhân: “Lê Hồng Tư là vị hôn phu của tôi”.

Nhiều bạn tù biết chuyện không khỏi rưng rưng nước mắt hỏi Châu: “Sao bao nhiêu lần anh ấy ngỏ lời, cô không đồng ý, đợi đến lúc anh ấy sắp hy sinh rồi mới chịu?”. Châu thú thật rằng, thật ra trước đó, cũng có tình cảm với anh nhưng vì hoàn cảnh ngặt nghèo, vì gia đình, vì công việc nên Châu còn ngần ngại. Nhưng nay, sợ anh hy sinh rồi mà vẫn còn mang tâm trạng chờ đợi âu lo về một người nên Châu quyết định. Châu tự hứa với lòng mình sau này nếu anh ấy hy sinh thì Châu cũng cứ ở vậy, không lấy ai nữa. Châu nhờ mọi người chuyển giùm lời ước hẹn của mình đến anh Tư.

“Áo trắng này nguyện trắng mãi thôi”

Trong xà lim, những khi nỗi nhớ ùa về, Châu chỉ biết khóc và thương anh Tư. Không biết cảm xúc từ đâu đến, nó ào ạt mạnh mẽ để cô viết ra 4 dòng thơ chắt lọc tinh khiết từ chính con tim mình: “Áo trắng em chưa vướng bụi đời/ Chưa từng mơ tưởng chuyện xa xôi/ Nhưng nay gặp cảnh đời chua xót/ Áo trắng này nguyện trắng mãi thôi”.

Những câu thơ được khắc lên vách tường nhà lao để mỗi ngày trôi qua là một ngày nhung nhớ trong khắc khoải hy vọng. Năm 1964, Nguyễn Thị Châu được ra tù, cô tiếp tục hoạt động cách mạng hăng hái và không ngừng hy vọng về ngày “đoàn tụ” với vị hôn phu là tử tù.

Ông Lê Hồng Tư trong lần trở lại thăm Côn Đảo, năm 2023.

Ông Lê Hồng Tư trong lần trở lại thăm Côn Đảo, năm 2023.

Ở nhà tù Côn Đảo, Lê Hồng Tư sống trong cảnh thấp thỏm, đánh vật với từng ngày sống sót. Cuối năm 1964, một bạn tù mới bị đưa vào tử ngục báo cho anh: “Chị Nguyễn Thị Châu, vị hôn thê của anh, nhắn anh hãy vững vàng bản lĩnh, sống lạc quan, vui vẻ chờ ngày đoàn tụ”. Lê Hồng Tư vừa mừng vừa lo, niềm hạnh phúc đến với anh quá bất ngờ trong hoàn cảnh nay sống mai chết không ai biết được. Con tim anh rộn lên niềm vui, vậy là cô ấy đã đồng ý tình cảm của mình. Chuyện tình vượt qua hàng ngàn cung đường, len lỏi vào tận xà lim. Hơn 10 năm cách trở, tử thần chực chờ anh, niềm tin có những lúc chỉ còn là đốm lửa le lói trước gió.

Trong nhà tù Côn Đảo, những cuộc đấu tranh chính trị kéo dài, bền bỉ đã giúp Lê Hồng Tư duy trì được sự sống đến ngày đất nước giải phóng. Ngày trở về, Lê Hồng Tư phóng xe thẳng tới UBND quận 10, nơi cô Nguyễn Thị Châu đang làm Chủ tịch UBND quận. Hai người chạy ào đến ôm nhau khóc nghẹn ngào không nói nên lời, mặc cho bao ánh mắt đang chăm chú nhìn về phía họ. Anh Tư bị nhiều vết thương do tra tấn và gông cùm, cô Châu vào bệnh viện chăm sóc anh cho đến ngày lành lặn. Một hôm, cô hỏi anh Tư: “Nếu trong thời gian ở tù Côn Đảo anh đã có người khác thì em xin rút lui để anh được hạnh phúc”.

Anh Tư nắm chặt tay cô nói: “Tôi đã hứa với lòng mình chừng nào còn hơi thở trên cõi đời này là tôi chỉ yêu một mình em, muốn kết hôn cùng em”. Vậy là đám cưới của họ được tổ chức vào tháng 8/1975 khi anh Tư đã ngoài 40 tuổi. Tiệc cưới chỉ mời 250 người nhưng bạn bè, người quen đến hơn 600 người để chung vui. Một điều kỳ diệu nữa cho cuộc tình cổ tích này chính là bé trai chào đời sau 2 năm ngày cưới, điều mà cả bác sĩ cũng không thể ngờ khi cả hai đều bị tra tấn dã man trong lao ngục và rất khó để có con.

Sau ngày giải phóng, bà Nguyễn Thị Châu làm Chủ tịch UBND quận 10; công tác tại Hội Liên hiệp phụ nữ TP Hồ Chí Minh, sau đó làm Chủ nhiệm Ủy ban Chăm sóc và Bảo vệ trẻ em, Hội Bảo trợ trẻ em TP Hồ Chí Minh cho đến ngày nghỉ hưu. Ông Lê Hồng Tư làm ở Sở Văn hóa - Thể thao rồi chuyển sang giữ chức Phó Chủ tịch Liên đoàn Lao động TP Hồ Chí Minh. Người con trai duy nhất của ông bà cũng giữ vị trí cao trong chính quyền thành phố. Trong gia đình của ông bà bây giờ đã có thế hệ thứ ba, cuộc sống viên mãn, hạnh phúc, tràn ngập tiếng cười con trẻ.

Tuổi ngoài 90, bà Châu giờ chân yếu, không thể đi lại nhiều, ông Tư vẫn chăm sóc và yêu thương bà trong mỗi phút giây của cuộc đời. Ông vẫn gọi bà là em, xưng anh và luôn thủ thỉ với người vợ tào khang của mình rằng: “Anh sẽ yêu em cho đến hơi thở của cùng”. Tình yêu của hai chiến sĩ cách mạng có cái kết thật viên mãn.

Các tin khác

Trường mới ở vùng biên

Trường mới ở vùng biên

(GLO)- Gần một tháng sau lễ khai giảng năm học 2026 - 2027, thầy và trò tại 7 trường phổ thông nội trú Tiểu học và THCS trên tuyến biên giới của tỉnh Gia Lai đang từng bước ổn định nền nếp dạy học.

Bí ẩn giếng cổ ở xã đảo Đà Nẵng

Bí ẩn giếng cổ ở xã đảo Đà Nẵng

Giữa vùng biển đảo quanh năm nắng gió, nơi từng giọt nước ngọt quý hơn vàng, hai giếng cổ dưới chân núi Bàn Than ở Tam Hải vẫn trong veo, mát lành qua hàng trăm năm. 

Những ngày ở xứ Kim Chi: Kỳ 2: 24 giờ ở Jeonju - thủ phủ của Jeollabuk-do

Những ngày ở xứ Kim Chi: Kỳ 2: 24 giờ ở Jeonju - thủ phủ của Jeollabuk-do

(GLO)- Hai lần đổi tàu với gần 3 giờ từ Busan đưa chúng tôi đến Jeonju - thủ phủ và là thành phố cổ yên bình của tỉnh Jeollabuk-do. 24 giờ ở đây đủ để nhận ra sức hấp dẫn của một vùng đất biết giữ gìn ký ức, chăm chút từng góc phố và biến những giá trị truyền thống thành sức hút du lịch.

Những ngày ở xứ Kim Chi: Kỳ 1: Phủ Sơn Quảng vực thị

Những ngày ở xứ Kim Chi: Kỳ 1: Phủ Sơn Quảng vực thị

(GLO)- L.T.S: “Những ngày ở xứ Kim Chi” là ghi chép của tác giả Đoàn Minh Phụng trong hành trình qua Busan, Jeonju và Seoul. Hơn một chuyến đi, loạt bài còn gợi mở những suy ngẫm về cách người Hàn gìn giữ văn hóa, tổ chức du lịch, xây dựng nếp sống văn minh và mở rộng giao lưu với Việt Nam.

Đất Vua xứ Rượu…

Đất Vua xứ Rượu…

(GLO)- Những ngày đầu thu, khi cái nắng miền Trung đã bớt gay gắt, những cơn mưa bắt đầu ghé qua nhiều hơn, đất trời xứ An Nhơn cũng dịu lại. Lúc đầy lúc vơi, sông Côn vẫn lặng lẽ chảy qua những xóm làng, mang theo phù sa và câu chuyện của một vùng đất từng là kinh đô. 

Về nơi cuối nguồn sông Lại

Về nơi cuối nguồn sông Lại

(GLO)- Ở nơi dòng Lại Giang khép lại hành trình để hòa vào Biển Ðông, sông - đồng - rừng - biển cùng hiện diện trong một không gian sống đặc biệt. Ðó là vùng đất Hoài Nhơn Ðông.

Món quà nhỏ nối dài lòng tốt

Món quà nhỏ nối dài lòng tốt

Mỗi lần nấu cơm cho gia đình, chị Trương Thị Phượng lại chuẩn bị thêm một, hai suất. Hôm nay, trong những chiếc hộp được xếp ngay ngắn là cơm trắng, khoai tây xào, gà xào và canh nóng. Chị chụp lại phần cơm, đăng lên nhóm “Cho tặng đồ miễn phí tại Hà Nội”, rồi chờ người cần đến nhận.

Vườn quốc gia Chư Yang Sin có 'nữ tướng rừng xanh'

Vườn quốc gia Chư Yang Sin có 'nữ tướng rừng xanh'

Hơn 16 năm gắn bó với Vườn quốc gia Chư Yang Sin, Hoàng Thị Hương là một trong số ít nữ kiểm lâm của đơn vị. Chị gắn bó với nghề không để chứng minh mình mạnh mẽ, mà bởi đó là công việc chị đã chọn.

Dệt màu xanh ấm no trên miền biên viễn

Dệt màu xanh ấm no trên miền biên viễn

(GLO)- Hơn 41 năm có mặt trên tuyến biên giới phía Tây của Tổ quốc, Binh đoàn 15 đã biến vùng đất cằn cỗi, đầy tàn tích chiến tranh thành vườn cao su, cà phê bạt ngàn.

Nghề xưa vẫn chảy bên dòng sông Côn

Nghề xưa vẫn chảy bên dòng sông Côn

(GLO)- Bên dòng sông Côn, đoạn chảy qua thôn Kiên Mỹ (xã Tây Sơn, tỉnh Gia Lai) từ lâu đã hình thành những xóm nghề gắn với đời sống người dân như làm đậu khuôn, giá đỗ, bún, bánh tráng, các loại bánh truyền thống, trồng rau... 

Phía sau đầu sóng Trường Sa

Phía sau đầu sóng Trường Sa

Bán đảo Cam Ranh nắng gió có một khu đô thị đặc biệt mang tên Khu đô thị Căn cứ quân sự Cam Ranh (Khánh Hòa). Sau những ô cửa bình yên nơi đây là mái ấm của các gia đình quân nhân, trong đó có những người vợ đang ngày ngày thay chồng chăm lo tổ ấm, khi các anh làm nhiệm vụ nơi đầu sóng Trường Sa.

Thầy tôi là nhà cách mạng làm thơ

Thầy tôi là nhà cách mạng làm thơ

Tôi gọi cha tôi bằng 'thầy' vì ông cụ muốn tôi nhớ lại gốc gác của mình từ một làng nào đó ở đất Nghệ An. Người Bắc hay gọi cha là thầy, mẹ là u. Bên nội tôi là người di dân, vào Quảng Ngãi từ mấy trăm năm trước.

Lưu giữ ký ức thời hoa lửa bằng công nghệ

Lưu giữ ký ức thời hoa lửa bằng công nghệ

(GLO)- Chiến tranh đã lùi xa hơn nửa thế kỷ. Những người trực tiếp đi qua những năm tháng khốc liệt ấy, nay đều đã ở tuổi xế chiều. Nhưng thời gian không chờ đợi ai. Khi những nhân chứng dần vắng bóng, cũng là lúc nhiều mảnh ghép ký ức về lịch sử dân tộc không còn cơ hội được kể lại.

Lộ Diêu vươn mình từ gian khó

Lộ Diêu vươn mình từ gian khó

(GLO)- Trước đây, Lộ Diêu (phường Hoài Nhơn Đông) như một thế giới tách biệt với bên ngoài. Ðặc trưng địa hình và cuộc sống của người dân nơi đây được đúc kết qua câu: “Lộ Diêu một biển ba đèo - Gian nan đã vượt, khó nghèo đã qua”.

Tìm nhau giữa hòa bình - Kỳ 1: Cô y tá và vết sẹo trên đầu

Tìm nhau giữa hòa bình - Kỳ 1: Cô y tá và vết sẹo trên đầu

Không ít những đồng đội chung chiến hào những ngày khói lửa, sau ngày hòa bình vì nhiều lý do, họ đã không gặp lại hoặc chưa gặp lại nhau. Những đồng đội cùng quê may mắn là ít nhất mỗi năm lại được gặp nhau vào dịp kỷ niệm ngày nhập ngũ.

“Viết tiếp câu chuyện hòa bình” từ kỷ vật chiến trường

“Viết tiếp câu chuyện hòa bình” từ kỷ vật chiến trường

(GLO)- Luôn xem kỷ vật chiến trường là “gia tài”, song Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Nguyễn Văn Nhương (SN 1948, trú phường Diên Hồng, tỉnh Gia Lai) vẫn quyết định hiến tặng, như lời nhắn gửi đến thế hệ sau về những ngày cả đất nước gian khổ đấu tranh vì độc lập dân tộc.

Làng xưa nay đã đổi thay

Làng xưa nay đã đổi thay

(GLO)- Sau khi về định cư ở vùng đất mới, cuộc sống của người dân 4 làng Plei Pông, Kinh Pêng, Plei Trớ và Plei Hek thuộc xã Chư A Thai (là các làng căn cứ cách mạng trong 2 cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ, còn gọi là 4 làng Ðồn) đã có nhiều đổi thay rõ nét.

Mang con dấu đến bản

Mang con dấu đến bản

Hai đứa con đã 15 và 13 tuổi, nhưng lần đầu tiên, vợ chồng anh Moong Văn Phong mới đi làm khai sinh cho con khi Trung tâm Phục vụ hành chính công xã Nhôn Mai (Nghệ An) mang con dấu đến tận bản để làm thủ tục cho dân.

Những dáng lính vùng biên

Những dáng lính vùng biên

(GLO)- Tôi gặp những người lính trên những chuyến tàu tuần tra ngoài khơi xa, giữa những hải trình dọc dài duyên hải đồng hành, làm chỗ dựa bảo vệ ngư dân và giữ gìn an ninh trật tự trên biển quê hương; gặp họ giữa những vùng biên giới Campuchia heo hút đầy nắng gió.

Ruổi rong đời chăn vịt

Ruổi rong đời chăn vịt

(GLO)- Sau mỗi mùa gặt, những cánh đồng lúa ở các xã An Lương, An Hòa, An Vinh, Tuy Phước… lại rộn ràng bởi đàn vịt hàng nghìn con tìm về kiếm ăn. Gắn với đàn vịt, những người chăn vịt miệt mài rong ruổi qua nhiều cánh đồng, lấy mùa gặt làm nhịp mưu sinh.

Trầm tích sông Ba

Trầm tích sông Ba

(GLO)- Sông Ba đoạn qua xã Ia Dreh (tỉnh Gia Lai) mùa khô, vài con thuyền đánh cá nằm gối đầu nghỉ ngơi trên những doi cát. Chiều xuống, từ những bến sông, người dân vẫn ra tắm mát dù nước cạn tới mức có thể lội ra giữa dòng.

Ký ức buồn đau của những người lầm đường lạc lối

Ký ức buồn đau của những người lầm đường lạc lối

(GLO)- Sau nhiều năm vượt biên, cư trú bất hợp pháp tại Thái Lan, 5 người Việt quê Gia Lai đã bị Cảnh sát Thái Lan bắt giữ và trục xuất về nước. Trở về đoàn tụ với gia đình, họ mang theo ký ức buồn đau về những tháng ngày sống chui lủi, thiếu thốn, bệnh tật nơi đất khách quê người.