Chợ cỏ Ô Lâm

Ô Lâm là một xã miền núi thuộc huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang. Theo người dân bản địa, từ Ô Thôm trong tiếng Khmer nghĩa là dòng suối lớn, dần dần người ta đọc trại âm thành Ô Lâm.

1. Khu vực Ô Lâm có địa hình "bán sơn địa", đồi núi trập trùng xen kẽ với đồng bằng. Có điều, đất trên đồng là đất cát pha, nên khó trồng trọt. Thay vào đó, người dân nuôi trâu bò rất nhiều. Nguồn cỏ tại chỗ cho trâu bò ăn ngày càng khan hiếm, dân địa phương phải đi cắt cỏ ở những cánh đồng xa rồi đem về đây bán lại, tạo thành một chợ cỏ tấp nập ở miền biên viễn Tây Nam Tổ quốc.

Chợ họp giữa trưa, khi cái nắng miền núi đổ từng đợt nóng xuống làm những ngọn cỏ héo rũ. Chủ nuôi trâu bò quanh vùng tập trung về chợ, đi đến các bó cỏ dựng đứng thành những hàng dài ven đường, nhấc lên rồi đặt xuống, mặc cả. Xế chiều, những bó cỏ cuối cùng cũng được bán hết. Người mua hí hửng ra về. Người bán ngồi nán lại dọc ven đường, đếm tới đếm lui số tiền ít ỏi vừa kiếm được, lòng nghĩ về những lon gạo cho bữa cơm chiều.

Người dân mang cỏ từ bến lên chợ.

Người dân mang cỏ từ bến lên chợ.

Chị Hen là người Khmer, chỉ nói được vài câu tiếng Việt cơ bản, và những con số giản đơn học được trong quá trình giao tiếp mua bán với người Kinh. Khi tôi hỏi gì đó, chị chỉ cười, bối rối. Chồng chị là anh Chau Sang, biết tiếng Việt kha khá do trước đây từng được học tới lớp ba. Anh nói, cỏ bán 5 bó giá 20.000 đồng. Người nào cắt giỏi, chăm chỉ, mỗi ngày có thể cắt được hơn 20 bó, nghĩa là kiếm được gần 100.000 đồng. Hai vợ chồng anh gom lại, ngày nào cũng được hơn 100.000 đồng tiền bán cỏ. Số tiền đó đủ để lo cho một gia đình bốn miệng ăn, dĩ nhiên là phải tiết kiệm đến mức tối đa. Lần đầu trong đời tôi nghe nói một gia đình mưu sinh bằng cỏ nên rất đỗi ngạc nhiên, nhưng anh Chau Sang thì xem đó là điều rất bình thường. Anh nói, ở xứ này, người ta dựa vào cỏ để sống, nhiều lắm.

2. Đêm đó, tôi ngủ lại nhà anh Sang, một căn nhà lá dựa lưng vào sườn dãy Phụng Hoàng sơn. Nhìn từ trước ra sau, ngôi nhà trống hoác, chẳng thấy vật dụng gì giá trị ngoài chiếc tivi cũ để trên cái bàn gỗ đóng đầy bụi. Điểm sáng nhất của căn nhà nhỏ này có lẽ là hai chiếc bàn nhựa xanh đỏ, trên ấy là mấy quyển sách được xếp ngăn nắp, hai chiếc ghế cóc để bên cạnh. Đó là góc học tập của con anh Chau Sang, một đứa lớp 7 và một đứa lớp 3.

Thấy người lạ đến nhà, chúng bẽn lẽn trốn vào lòng mẹ. Thi thoảng chúng len lén nhìn tôi, đôi mắt đen láy, to tròn. Trong bữa cơm chiều, tôi thấy anh Sang và chị Hen hay nhìn hai đứa nhỏ, rồi lại nhìn nhau cười hạnh phúc. Tôi biết, hai thiên thần ấy là những gì quý giá nhất mà anh chị có được. Đôi khi, người ta sẵn sàng đổi lấy những giọt mồ hôi chỉ mong có được buổi cơm chiều như thế.

Gia đình anh Sang, chị Heng vui mừng khi bán được những bó cỏ đầu tiên.

Gia đình anh Sang, chị Heng vui mừng khi bán được những bó cỏ đầu tiên.

Nói là ngủ, thật ra cả đêm ấy tôi không chợp mắt được. Khi tiếng gà gáy hiệp nhất cuối xóm vang lên, anh Chau Sang và chị Hen cũng lục đục thức dậy để chuẩn bị cho một ngày lao động mới. Chúng tôi rọi đèn pin đi ra bờ kinh, nơi đậu chiếc tắc ráng nhỏ của anh chị. Đây cũng là phương tiện quý nhất để mỗi ngày anh chị chạy đi cắt cỏ bán. Cỏ ở vùng Ô Lâm hay Cô Tô giờ còn ít lắm, chỉ có đi qua tỉnh Kiên Giang, cách đó chừng ba bốn chục cây số, mới mong còn cỏ để cắt. Anh Sang nói vậy, rồi cho tắc ráng bắt đầu chạy dọc theo các con kinh nhỏ, đi về phía Hòn Đất, Kiên Giang. Tôi không biết lúc này anh Sang và chị Hen đang nghĩ gì, khi bắt đầu một vòng lặp của cuộc mưu sinh?

Ở đoạn kinh mà chúng tôi ghé lại lúc tờ mờ sáng hôm ấy, có hàng chục người như anh Sang và chị Hen. Những đoạn kinh khác, người cắt cỏ cũng đông tương tự. Họ trầm nửa thân mình dưới nước, cắt những ngọn cỏ mọc ven kinh, bó thành từng bó nhỏ để ngay ngắn trên tắc ráng. Hầu như họ chẳng nói gì với nhau, chỉ tập trung vào đôi mắt, vào đôi tay để sao cho thao tác được nhanh nhất. Bởi có thể, một chút lơ là thôi sẽ khiến bữa cơm chiều không được no bụng.

Chợ cỏ vẫn họp ở Ô Lâm mỗi ngày, kẻ bán người mua tấp nập. Không hiểu sao, mỗi lần ghé qua đây, tôi thường chỉ đứng lặng ở một góc chợ, nhìn người bán cỏ co ro bên những bó cỏ của mình. Dễ nhận ra vì quần áo họ thường ướt đẫm từ bụng trở xuống. Họ như những cọng cỏ mọc lên từ nước, nửa thân còn ngập, rễ vẫn bám trong đất bùn…

3. Tôi bỗng nhớ lần ghé làng nghề bó chổi ở Phú Bình (huyện Phú Tân, An Giang). Bà chị ngồi bó chổi quệt mồ hôi chảy dài trên trán, than mấy câu đầy triết lý: "Ai làm nghề gì mà dính tới cỏ là khổ hết đó em ơi, không tin em cứ nhìn tụi chị nè, khổ đứt đường luôn. Mỗi người bó chổi ở đây đều đeo mấy cái khẩu trang, mặc ba bốn lớp quần áo, mang vớ, đeo bao tay kín mít, nóng nực cỡ nào cũng phải "trang bị" như vậy. Tại sao à? Vì bông cỏ dùng để bó chổi rụng bụi dữ lắm, mặc như vậy nó còn len vào, chiều về ngứa gãi rướm máu hông hết ngứa. Chưa kể, có những đợt bông cỏ nhập về bị xịt thuốc bảo vệ thực vật, người ta xịt để cỏ được tốt, bán giá cao. Họ đâu có biết, những "mẻ" cỏ đó ngứa và độc hại vô cùng, mấy chị bó xong có khi đi bệnh viện luôn, tiền công lãnh được không đủ trả tiền thuốc".

Tôi nhớ trước đây bó chổi dùng bông sậy, một loại cây thân thảo sống chủ yếu ở vùng sông nước miền Tây. Cứ vào mùa nước lên, sậy lại trổ những bông dài như cỏ lau. Người ta cắt những bông ấy về bó chổi, vừa bền vừa đẹp. Nhưng bây giờ bông sậy khan hiếm lắm. Không có bông sậy đành thay bằng bông cỏ.

"Loại bông cỏ này đặt mua từ miền Trung. Không biết những người cắt bông cỏ ngoài ấy có bị gì không, chớ tụi chị ngồi bó chổi ở đây thì bị đủ thứ hết. Nhưng bỏ nghề sao được, làng nghề này cũng tồn tại cả trăm năm rồi. Bao thế hệ dựa vào đây mà sống. Thu nhập chỉ khoảng vài chục đến một trăm ngàn đồng mỗi ngày thôi, nhưng không làm thì chẳng biết làm gì. Bọn trẻ bây giờ thì ít theo nghề này lắm, tụi nó đi Bình Dương, đi Sài Gòn làm công nhân hết rồi".

Giọng chị cứ đều đều, không phải than trách, mà như giãy bày. Bởi có than trách gì thì những người phụ này cũng không dễ dứt cuộc đời mình ra khỏi những bông cỏ nơi đây. Tôi không nhìn rõ mặt một ai cả, vì họ bịt kín bằng khẩu trang và khăn. Trên tay các chị, những lọn cỏ lật ngược rồi lật xuôi, bắn ra các hạt bụi li ti như cám. Tôi đoán chừng mấy chị này chắc chỉ trạc tuổi chị gái tôi. Rồi chợt nhớ, chị em tôi cũng có những năm tháng dài mưu sinh với cỏ.

Đó là khoảng thập niên 90 của thế kỷ trước, khi thuốc bảo vệ thực vật chưa thịnh hành, mấy công ruộng thường bị nhiều cỏ dại mọc xen lẫn với lúa. Bởi vậy, nghề mần cỏ mướn rất phổ biến ở quê tôi. Năm tôi 12 tuổi, má đã kêu mấy chị dạy cho tôi cách mần cỏ. Vừa học bữa trước, bữa sau đã lãnh công nhật đi làm cỏ mướn cho người ta. Mấy ngày đầu, tôi làm sót cỏ nhiều, chị tôi phải theo sát giúp đỡ, vậy mà cũng bị chủ đất nói nặng nói nhẹ.

Tắc ráng chở cỏ về chợ bán.

Tắc ráng chở cỏ về chợ bán.

Nhưng công việc đó không phải lúc nào cũng nhàn nhã như tôi cảm nhận. Vụ lúa hè thu thường rơi vào đợt mưa bão, chúng tôi phải phơi mình giữa đồng dù trời nắng hay trời mưa, như bị trời đày. Tay của chị em tôi tiếp xúc lâu với nước nên phồng lên, rồi chảy nước vàng, nhiều chỗ rướm máu. Chân cũng bị nước ăn, lở loét. Chiều tối, chúng tôi phải ngâm chân tay trong nước muối, sáng hôm sau các vết thương vừa ráo thì phải ra đồng. Cứ thế kéo dài hàng tháng trời, tới khi tất cả các công ruộng đều trổ đòng đòng, chủ đất mới không mướn chúng tôi nữa. Tiền công của chị em tôi, đương nhiên má dùng hết để đong gạo. Nhiều lúc, bưng chén cơm nóng hổi trên tay, tôi không ăn ngay mà nhìn làn khói mỏng bốc lên, hít nhè nhẹ mùi thơm gạo mới. Lòng nghĩ, những chén cơm ấy được chắt chiu từ mồ hôi, nước mắt của chị em tôi, nó cũng gắn liền với thân phận loài cỏ dại.

Sau này, người ta dùng thuốc cỏ nhiều quá, nên nghề mần cỏ mướn cũng thưa vắng dần. Mấy chị tôi giờ đã ở tuổi ngũ tuần, nhắc lại chuyện trước đây chỉ biết thở dài than, "hồi đó sao khổ quá". Cháu tôi và những đứa trẻ trong xóm bây giờ không mấy thiết tha với ruộng đồng. Chúng đổ xô lên thành phố, hòa vào những dòng người tất bật ngược xuôi. Giấc mơ của chúng là những thảo nguyên xanh bát ngát, không phải những phận cỏ dại bọt bèo như chị em chúng tôi.

Khi viết những dòng này, tôi chợt nhớ đến hai đứa con của anh Chau Sang và chị Hen ở Cô Tô. Không biết giờ này chúng đã đi học về hay chưa? Tôi thầm mong chúng đừng vì bất cứ lý do gì mà phải bỏ học, mong chúng sẽ chân cứng đá mềm để mai này lấy hành trang là con chữ để bước vào đời, không phải vất vả như cha mẹ chúng bây giờ. Nghĩ đến cặp mắt sáng trong, gương mặt thanh tú của bọn trẻ, tôi tin rằng chúng sẽ làm được. Tôi cũng tin rằng những đứa cháu tôi, những đứa trẻ ở làng nghề bó chổi Phú Bình sẽ viết được trang đời tươi sáng.

Theo Trương Chí Hùng (CANDO)

Các tin khác

Trường mới ở vùng biên

Trường mới ở vùng biên

(GLO)- Gần một tháng sau lễ khai giảng năm học 2026 - 2027, thầy và trò tại 7 trường phổ thông nội trú Tiểu học và THCS trên tuyến biên giới của tỉnh Gia Lai đang từng bước ổn định nền nếp dạy học.

Bí ẩn giếng cổ ở xã đảo Đà Nẵng

Bí ẩn giếng cổ ở xã đảo Đà Nẵng

Giữa vùng biển đảo quanh năm nắng gió, nơi từng giọt nước ngọt quý hơn vàng, hai giếng cổ dưới chân núi Bàn Than ở Tam Hải vẫn trong veo, mát lành qua hàng trăm năm. 

Những ngày ở xứ Kim Chi: Kỳ 2: 24 giờ ở Jeonju - thủ phủ của Jeollabuk-do

Những ngày ở xứ Kim Chi: Kỳ 2: 24 giờ ở Jeonju - thủ phủ của Jeollabuk-do

(GLO)- Hai lần đổi tàu với gần 3 giờ từ Busan đưa chúng tôi đến Jeonju - thủ phủ và là thành phố cổ yên bình của tỉnh Jeollabuk-do. 24 giờ ở đây đủ để nhận ra sức hấp dẫn của một vùng đất biết giữ gìn ký ức, chăm chút từng góc phố và biến những giá trị truyền thống thành sức hút du lịch.

Những ngày ở xứ Kim Chi: Kỳ 1: Phủ Sơn Quảng vực thị

Những ngày ở xứ Kim Chi: Kỳ 1: Phủ Sơn Quảng vực thị

(GLO)- L.T.S: “Những ngày ở xứ Kim Chi” là ghi chép của tác giả Đoàn Minh Phụng trong hành trình qua Busan, Jeonju và Seoul. Hơn một chuyến đi, loạt bài còn gợi mở những suy ngẫm về cách người Hàn gìn giữ văn hóa, tổ chức du lịch, xây dựng nếp sống văn minh và mở rộng giao lưu với Việt Nam.

Đất Vua xứ Rượu…

Đất Vua xứ Rượu…

(GLO)- Những ngày đầu thu, khi cái nắng miền Trung đã bớt gay gắt, những cơn mưa bắt đầu ghé qua nhiều hơn, đất trời xứ An Nhơn cũng dịu lại. Lúc đầy lúc vơi, sông Côn vẫn lặng lẽ chảy qua những xóm làng, mang theo phù sa và câu chuyện của một vùng đất từng là kinh đô. 

Về nơi cuối nguồn sông Lại

Về nơi cuối nguồn sông Lại

(GLO)- Ở nơi dòng Lại Giang khép lại hành trình để hòa vào Biển Ðông, sông - đồng - rừng - biển cùng hiện diện trong một không gian sống đặc biệt. Ðó là vùng đất Hoài Nhơn Ðông.

Món quà nhỏ nối dài lòng tốt

Món quà nhỏ nối dài lòng tốt

Mỗi lần nấu cơm cho gia đình, chị Trương Thị Phượng lại chuẩn bị thêm một, hai suất. Hôm nay, trong những chiếc hộp được xếp ngay ngắn là cơm trắng, khoai tây xào, gà xào và canh nóng. Chị chụp lại phần cơm, đăng lên nhóm “Cho tặng đồ miễn phí tại Hà Nội”, rồi chờ người cần đến nhận.

Vườn quốc gia Chư Yang Sin có 'nữ tướng rừng xanh'

Vườn quốc gia Chư Yang Sin có 'nữ tướng rừng xanh'

Hơn 16 năm gắn bó với Vườn quốc gia Chư Yang Sin, Hoàng Thị Hương là một trong số ít nữ kiểm lâm của đơn vị. Chị gắn bó với nghề không để chứng minh mình mạnh mẽ, mà bởi đó là công việc chị đã chọn.

Dệt màu xanh ấm no trên miền biên viễn

Dệt màu xanh ấm no trên miền biên viễn

(GLO)- Hơn 41 năm có mặt trên tuyến biên giới phía Tây của Tổ quốc, Binh đoàn 15 đã biến vùng đất cằn cỗi, đầy tàn tích chiến tranh thành vườn cao su, cà phê bạt ngàn.

Nghề xưa vẫn chảy bên dòng sông Côn

Nghề xưa vẫn chảy bên dòng sông Côn

(GLO)- Bên dòng sông Côn, đoạn chảy qua thôn Kiên Mỹ (xã Tây Sơn, tỉnh Gia Lai) từ lâu đã hình thành những xóm nghề gắn với đời sống người dân như làm đậu khuôn, giá đỗ, bún, bánh tráng, các loại bánh truyền thống, trồng rau... 

Phía sau đầu sóng Trường Sa

Phía sau đầu sóng Trường Sa

Bán đảo Cam Ranh nắng gió có một khu đô thị đặc biệt mang tên Khu đô thị Căn cứ quân sự Cam Ranh (Khánh Hòa). Sau những ô cửa bình yên nơi đây là mái ấm của các gia đình quân nhân, trong đó có những người vợ đang ngày ngày thay chồng chăm lo tổ ấm, khi các anh làm nhiệm vụ nơi đầu sóng Trường Sa.

Thầy tôi là nhà cách mạng làm thơ

Thầy tôi là nhà cách mạng làm thơ

Tôi gọi cha tôi bằng 'thầy' vì ông cụ muốn tôi nhớ lại gốc gác của mình từ một làng nào đó ở đất Nghệ An. Người Bắc hay gọi cha là thầy, mẹ là u. Bên nội tôi là người di dân, vào Quảng Ngãi từ mấy trăm năm trước.

Lưu giữ ký ức thời hoa lửa bằng công nghệ

Lưu giữ ký ức thời hoa lửa bằng công nghệ

(GLO)- Chiến tranh đã lùi xa hơn nửa thế kỷ. Những người trực tiếp đi qua những năm tháng khốc liệt ấy, nay đều đã ở tuổi xế chiều. Nhưng thời gian không chờ đợi ai. Khi những nhân chứng dần vắng bóng, cũng là lúc nhiều mảnh ghép ký ức về lịch sử dân tộc không còn cơ hội được kể lại.

Lộ Diêu vươn mình từ gian khó

Lộ Diêu vươn mình từ gian khó

(GLO)- Trước đây, Lộ Diêu (phường Hoài Nhơn Đông) như một thế giới tách biệt với bên ngoài. Ðặc trưng địa hình và cuộc sống của người dân nơi đây được đúc kết qua câu: “Lộ Diêu một biển ba đèo - Gian nan đã vượt, khó nghèo đã qua”.

Tìm nhau giữa hòa bình - Kỳ 1: Cô y tá và vết sẹo trên đầu

Tìm nhau giữa hòa bình - Kỳ 1: Cô y tá và vết sẹo trên đầu

Không ít những đồng đội chung chiến hào những ngày khói lửa, sau ngày hòa bình vì nhiều lý do, họ đã không gặp lại hoặc chưa gặp lại nhau. Những đồng đội cùng quê may mắn là ít nhất mỗi năm lại được gặp nhau vào dịp kỷ niệm ngày nhập ngũ.

“Viết tiếp câu chuyện hòa bình” từ kỷ vật chiến trường

“Viết tiếp câu chuyện hòa bình” từ kỷ vật chiến trường

(GLO)- Luôn xem kỷ vật chiến trường là “gia tài”, song Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Nguyễn Văn Nhương (SN 1948, trú phường Diên Hồng, tỉnh Gia Lai) vẫn quyết định hiến tặng, như lời nhắn gửi đến thế hệ sau về những ngày cả đất nước gian khổ đấu tranh vì độc lập dân tộc.

Làng xưa nay đã đổi thay

Làng xưa nay đã đổi thay

(GLO)- Sau khi về định cư ở vùng đất mới, cuộc sống của người dân 4 làng Plei Pông, Kinh Pêng, Plei Trớ và Plei Hek thuộc xã Chư A Thai (là các làng căn cứ cách mạng trong 2 cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ, còn gọi là 4 làng Ðồn) đã có nhiều đổi thay rõ nét.

Mang con dấu đến bản

Mang con dấu đến bản

Hai đứa con đã 15 và 13 tuổi, nhưng lần đầu tiên, vợ chồng anh Moong Văn Phong mới đi làm khai sinh cho con khi Trung tâm Phục vụ hành chính công xã Nhôn Mai (Nghệ An) mang con dấu đến tận bản để làm thủ tục cho dân.

Những dáng lính vùng biên

Những dáng lính vùng biên

(GLO)- Tôi gặp những người lính trên những chuyến tàu tuần tra ngoài khơi xa, giữa những hải trình dọc dài duyên hải đồng hành, làm chỗ dựa bảo vệ ngư dân và giữ gìn an ninh trật tự trên biển quê hương; gặp họ giữa những vùng biên giới Campuchia heo hút đầy nắng gió.

Ruổi rong đời chăn vịt

Ruổi rong đời chăn vịt

(GLO)- Sau mỗi mùa gặt, những cánh đồng lúa ở các xã An Lương, An Hòa, An Vinh, Tuy Phước… lại rộn ràng bởi đàn vịt hàng nghìn con tìm về kiếm ăn. Gắn với đàn vịt, những người chăn vịt miệt mài rong ruổi qua nhiều cánh đồng, lấy mùa gặt làm nhịp mưu sinh.

Trầm tích sông Ba

Trầm tích sông Ba

(GLO)- Sông Ba đoạn qua xã Ia Dreh (tỉnh Gia Lai) mùa khô, vài con thuyền đánh cá nằm gối đầu nghỉ ngơi trên những doi cát. Chiều xuống, từ những bến sông, người dân vẫn ra tắm mát dù nước cạn tới mức có thể lội ra giữa dòng.

Ký ức buồn đau của những người lầm đường lạc lối

Ký ức buồn đau của những người lầm đường lạc lối

(GLO)- Sau nhiều năm vượt biên, cư trú bất hợp pháp tại Thái Lan, 5 người Việt quê Gia Lai đã bị Cảnh sát Thái Lan bắt giữ và trục xuất về nước. Trở về đoàn tụ với gia đình, họ mang theo ký ức buồn đau về những tháng ngày sống chui lủi, thiếu thốn, bệnh tật nơi đất khách quê người.