70 năm Chiến thắng Điện Biên Phủ - Bài 7: Him Lam - 'trận đầu phải thắng'

Đúng 17h5 phút ngày 13/3/1954, bộ đội ta nổ súng vào Him Lam, mở màn cuộc tổng tiến công vào tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. Đó là “cánh cửa sắt” của địch nhưng bị chúng ta phá toang bằng sự mưu trí và lòng quả cảm, trong “mưa dầm, cơm vắt”, trong “máu trộn bùn non”…

“Cánh cửa sắt” của Điện Biên Phủ

Trong bài thơ “Hoan hô chiến sỹ Điện Biên” của nhà thơ Tố Hữu có đoạn: “Mường Thanh, Hồng Cúm, Him Lam/ Hoa mơ lại trắng, vườn cam lại vàng”. Đó là 3 địa danh lớn nhất của chiến trường Điện Biên Phủ. Trên đất Điện Biên, Him Lam ở phía Bắc, phân khu trung tâm Mường Thanh ở giữa và Hồng Cúm ở phía Nam.

Bộ đội ta ném lựu đạn tiêu diệt địch tại Him Lam

Địa hình ở Him Lam chủ yếu là đồi thấp, xen lẫn các thung lũng nhỏ, có sông Nậm Rốm chảy qua. Him Lam là cách gọi trệch từ Hin Đăm của tiếng Thái. Hin là đá, đăm là đen. Trong phát âm, người Thái không phân biệt được phụ âm đ và phụ âm l, bộ đội ta nghe “đăm” thành “lam” nên thành ra tên gọi Him Lam như hiện nay. Him Lam có vị trí quan trọng hơn vì nó là một bệ lô cốt lớn, cách phân khu Trung tâm 2,5km, án ngữ ngay con đường từ Tuần Giáo đến Điện Biên Phủ. Dưới đổi là con suối có rất nhiều phiến đá màu đen.

Ông Bùi Kim Điều kể lại giây phút mở màn chiến dịch

Ông Bùi Kim Điều kể lại giây phút mở màn chiến dịch

Trung tâm đề kháng Him Lam được xây dựng trên ba quả đồi, tạo thành 3 cứ điểm dễ dàng hỗ trợ cho nhau, pháo ở Mường Thanh có thể yểm trợ. Him Lam còn được phòng ngự phức tạp và chắc chắn với hệ thống chiến hào ngang dọc nối liền các cơ quan, hầm ngầm và các hỏa điểm hiện đại, được bố trí thành nhiều tầng. Trong, ngoài cứ điểm này còn có hệ thống mìn, dây thép gai. Hàng thép gai có nơi rộng từ 100m đến 200m.

Trung tâm đề kháng Him Lam được mệnh danh là “cánh cửa sắt” của tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. Đến mức, trước trận đánh, quân ta bắt được tù binh tên là Giắc Kơ. Khi được ta chăm sóc y tế chu đáo, Giắc Kơ “thành thật” khuyên: “Tôi khuyên các ngài một điều, các ngài chớ động vào Him Lam vì vào Him Lam là tự nguyện vào chỗ chết”.

Tấn công tiêu diệt cứ điểm đồi Độc Lập

Tấn công tiêu diệt cứ điểm đồi Độc Lập

Để được “sống lại” trong bầu không khí của trận đánh Him Lam, chúng tôi được Thiếu tướng Nguyễn Trọng Lư, Chủ tịch Hội Cựu chiến binh tỉnh Điện Biên giới thiệu gặp người từng tham gia trận chiến. Đó là ông Bùi Kim Điều, chiến sỹ thông tin của Đại đoàn 312. Nhà ông Điều giờ nằm ngay chân suối cạn, nơi từng là hàng rào dây thép gai vòng ngoài của trung tâm đề kháng Him Lam năm xưa. Quê ở Gia Viễn (Ninh Bình), chiến sỹ Điều nhập ngũ năm 22 tuổi. Sau huấn luyện, chiến đấu ở chiến dịch Tây nam Ninh Bình, đơn vị ông được lệnh di chuyển lên Tây Bắc.

Ông Điều bắt đầu câu chuyện bằng việc Đại tướng Võ Nguyên Giáp giao Đại đoàn 312 đánh trận mở đầu. “Nếu các đồng chí chiến thắng thì tạo điều kiện cho bộ đội ta rất nhiều, tạo khí thế cho các trận địa khác. Nếu các đồng chí không chiến thắng bộ đội ta thiệt hại rất lớn. Vì thế, dù có phải hi sinh nhiều, các đồng chí phải chiến thắng”, ông Điều nhớ lại lời Đại tướng nhắn gửi.

“Quân ta vừa hô vừa tiến như vũ bão”

“Đúng 17h5 phút ngày 13/3/1954, 40 khẩu pháo cỡ từ 75 mm đến cối 120 mm đồng loạt nhả đạn. Ba loạt pháo của ta trút bão lửa lên đồi Him Lam khiến quân địch bất ngờ và thiệt hại nặng nề. Để vượt qua hàng rào dây thép gai, ta phải dùng đến cả bộc phá. Rồi hai trung đoàn mở đường, tiến thẳng lên đồi Him Lam. Quân ta vừa hô, vừa tiến như vũ bão”, ông Điều kể.

Rồi ông tiếp tục, sau hai giờ đồng hồ, ta chiếm được cứ điểm 1 và nửa cứ điểm 2. Tại cứ điểm 2, có một khẩu đại liên bắn ra với diện rộng bộ đội ta hi sinh và bị thương rất nhiều, không tiến thêm được. “Trong lúc nguy cấp đó, Tiểu đội phó Phan Đình Giót (lúc đó 32 tuổi, lớn tuổi nhất) dù bị thương ở chân nhưng tay cầm khẩu tiểu liên vừa chạy vừa bắn, ném lựu đạn. Đến lỗ châu mai, anh vươn mình lấy đà, lao thẳng vào lỗ châu mai. Khẩu đại liên im bặt. Quân ta ào lên chiếm lô cốt. Từ lúc đó, sự kháng cự của địch yếu dần. Đúng 21h30 phút, quân ta đã làm chủ hoàn toàn cứ điểm Him Lam”, ông Điều kể.

Theo ông Điều và các cứ liệu lịch sử hiện nay, trong trận chiến này, ta tiêu diệt 200 tên địch, bắt sống 375 lính Lê Dương, thu giữ toàn bộ vũ khí. Sau đó, Đại đoàn 312 cùng Đại đoàn 308 tập trung bao vây, đánh đồi Độc Lập.

Cứ điểm đồi Độc Lập tuy chỉ có một quả đồi nhưng được bố phòng kiên cố hơn, hầm hào nhiều hơn. Vì vậy, ta đánh 2 ngày đêm nhưng chưa chiếm được. Cấp trên nhận định, ta phải thay đổi cách đánh. Vì địch ở trên chỉ cần quăng lựu đạn xuống, quân ta bị thương nhiều. Còn ta bắn lên, chỉ bắn vào tường hào… mà không trúng địch.

“Lúc đó, có một mật báo từ Tiểu đoàn về Trung đoàn xin thay đổi cách đánh và chi viện lựu đạn, thủ pháo. Mật báo này được giao cho tiểu đội 3 người, do tôi làm tổ trưởng”, ông Điều kể.

Vượt qua quãng đường chừng 2km từ trận địa về Sở chỉ huy Trung đoàn, dưới là hầm hào bùn lầy, trên là lửa đạn nhưng không thể cản bước chân tiểu đội thông tin. “Cung đường 2km nhưng không thể đi thẳng, có lúc chạy dưới hào, có lúc trườn trên cánh đồng giữa làn đạn khói lửa của địch. Hai đồng đội tôi bị thương nặng bị tụt lại. Tôi cũng bị thương. Lúc đó, nghĩ rằng, nếu chậm một phút sẽ lỡ thời cơ nên tôi tự băng bó vết thương để tiếp bò, có lúc nhảy cò dưới hào. Cuối cùng, tôi đến được Sở chỉ huy Trung đoàn. Tôi thông báo cho Trung đoàn trưởng Lê Thùy rồi lịm đi vì mất máu. Tỉnh lại mới biết mình đã hoàn thành nhiệm vụ. Lựu đạn, thủ pháo đã được chi viện kịp thời. Hai ngày sau, cứ điểm Đồi Độc lập bị tiêu diệt”, ông Điều nhớ lại.

Những ngày sau, trung đoàn của ông được lệnh đào hào chia cắt sân bay Mường Thanh. Đó là những ngày mưa liên tục, đất thành bùn lầy. “Nhiều ngày không nấu được cơm, chúng tôi ăn gạo rang, uống nước. Lúc ngủ thì vào hầm ếch ngay trên chiến hào. Cứ tiểu đội 3 người dựa lưng vào nhau lấy hơi ấm. Mỗi ca ngủ 3 tiếng. Đơn vị cứ thay nhau đào hào và ngủ như thế. Dưới hào là bùn non, là nước, thậm chí cả máu trộn lẫn. Nhưng tinh thần chúng tôi không nao núng. Hơn 10 ngày sau, hào của chúng tôi nối liền 2 đầu, chia cắt sân bay. Lúc đó, mặt mũi lấm lem, không nhận ra nhau nhưng vỡ òa sung sướng”, ông Điều kể.

Đường băng bị chia cắt, máy bay địch vì thể không thể hạ cánh, buộc phải thả người và hàng từ trên cao. Và, quân ta đã thu được rất nhiều chiến lợi phẩm, có thêm nguồn tiếp tế, sức khỏe vật chất và tinh thần của bộ đội ta càng tăng lên…

Ngày 11/3/1954, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết thư gửi các cán bộ, chiến sĩ trên mặt trận. Người viết: “Các chú sắp ra trận. Nhiệm vụ các chú lần này rất to lớn, khó khăn, nhưng rất vinh quang. Các chú vừa được chỉnh quân chính trị và chỉnh huấn quân sự, và đã thu được nhiều thắng lợi về tư tưởng và chiến thuật, kỹ thuật. Nhiều đơn vị cũng đã đánh thắng trên các mặt trận. Bác tin chắc rằng các chú sẽ phát huy thắng lợi vừa qua, quyết tâm vượt mọi khó khăn gian khổ để làm tròn nhiệm vụ vẻ vang sắp tới.

Bác chờ các chú báo cáo thành tích để thưởng những đơn vị và cá nhân xuất sắc nhất.

Chúc các chú thắng to.

Bác hôn các chú”

(Còn nữa)

Các tin khác

Trường mới ở vùng biên

Trường mới ở vùng biên

(GLO)- Gần một tháng sau lễ khai giảng năm học 2026 - 2027, thầy và trò tại 7 trường phổ thông nội trú Tiểu học và THCS trên tuyến biên giới của tỉnh Gia Lai đang từng bước ổn định nền nếp dạy học.

Bí ẩn giếng cổ ở xã đảo Đà Nẵng

Bí ẩn giếng cổ ở xã đảo Đà Nẵng

Giữa vùng biển đảo quanh năm nắng gió, nơi từng giọt nước ngọt quý hơn vàng, hai giếng cổ dưới chân núi Bàn Than ở Tam Hải vẫn trong veo, mát lành qua hàng trăm năm. 

Những ngày ở xứ Kim Chi: Kỳ 2: 24 giờ ở Jeonju - thủ phủ của Jeollabuk-do

Những ngày ở xứ Kim Chi: Kỳ 2: 24 giờ ở Jeonju - thủ phủ của Jeollabuk-do

(GLO)- Hai lần đổi tàu với gần 3 giờ từ Busan đưa chúng tôi đến Jeonju - thủ phủ và là thành phố cổ yên bình của tỉnh Jeollabuk-do. 24 giờ ở đây đủ để nhận ra sức hấp dẫn của một vùng đất biết giữ gìn ký ức, chăm chút từng góc phố và biến những giá trị truyền thống thành sức hút du lịch.

Những ngày ở xứ Kim Chi: Kỳ 1: Phủ Sơn Quảng vực thị

Những ngày ở xứ Kim Chi: Kỳ 1: Phủ Sơn Quảng vực thị

(GLO)- L.T.S: “Những ngày ở xứ Kim Chi” là ghi chép của tác giả Đoàn Minh Phụng trong hành trình qua Busan, Jeonju và Seoul. Hơn một chuyến đi, loạt bài còn gợi mở những suy ngẫm về cách người Hàn gìn giữ văn hóa, tổ chức du lịch, xây dựng nếp sống văn minh và mở rộng giao lưu với Việt Nam.

Đất Vua xứ Rượu…

Đất Vua xứ Rượu…

(GLO)- Những ngày đầu thu, khi cái nắng miền Trung đã bớt gay gắt, những cơn mưa bắt đầu ghé qua nhiều hơn, đất trời xứ An Nhơn cũng dịu lại. Lúc đầy lúc vơi, sông Côn vẫn lặng lẽ chảy qua những xóm làng, mang theo phù sa và câu chuyện của một vùng đất từng là kinh đô. 

Về nơi cuối nguồn sông Lại

Về nơi cuối nguồn sông Lại

(GLO)- Ở nơi dòng Lại Giang khép lại hành trình để hòa vào Biển Ðông, sông - đồng - rừng - biển cùng hiện diện trong một không gian sống đặc biệt. Ðó là vùng đất Hoài Nhơn Ðông.

Món quà nhỏ nối dài lòng tốt

Món quà nhỏ nối dài lòng tốt

Mỗi lần nấu cơm cho gia đình, chị Trương Thị Phượng lại chuẩn bị thêm một, hai suất. Hôm nay, trong những chiếc hộp được xếp ngay ngắn là cơm trắng, khoai tây xào, gà xào và canh nóng. Chị chụp lại phần cơm, đăng lên nhóm “Cho tặng đồ miễn phí tại Hà Nội”, rồi chờ người cần đến nhận.

Vườn quốc gia Chư Yang Sin có 'nữ tướng rừng xanh'

Vườn quốc gia Chư Yang Sin có 'nữ tướng rừng xanh'

Hơn 16 năm gắn bó với Vườn quốc gia Chư Yang Sin, Hoàng Thị Hương là một trong số ít nữ kiểm lâm của đơn vị. Chị gắn bó với nghề không để chứng minh mình mạnh mẽ, mà bởi đó là công việc chị đã chọn.

Dệt màu xanh ấm no trên miền biên viễn

Dệt màu xanh ấm no trên miền biên viễn

(GLO)- Hơn 41 năm có mặt trên tuyến biên giới phía Tây của Tổ quốc, Binh đoàn 15 đã biến vùng đất cằn cỗi, đầy tàn tích chiến tranh thành vườn cao su, cà phê bạt ngàn.

Nghề xưa vẫn chảy bên dòng sông Côn

Nghề xưa vẫn chảy bên dòng sông Côn

(GLO)- Bên dòng sông Côn, đoạn chảy qua thôn Kiên Mỹ (xã Tây Sơn, tỉnh Gia Lai) từ lâu đã hình thành những xóm nghề gắn với đời sống người dân như làm đậu khuôn, giá đỗ, bún, bánh tráng, các loại bánh truyền thống, trồng rau... 

Phía sau đầu sóng Trường Sa

Phía sau đầu sóng Trường Sa

Bán đảo Cam Ranh nắng gió có một khu đô thị đặc biệt mang tên Khu đô thị Căn cứ quân sự Cam Ranh (Khánh Hòa). Sau những ô cửa bình yên nơi đây là mái ấm của các gia đình quân nhân, trong đó có những người vợ đang ngày ngày thay chồng chăm lo tổ ấm, khi các anh làm nhiệm vụ nơi đầu sóng Trường Sa.

Thầy tôi là nhà cách mạng làm thơ

Thầy tôi là nhà cách mạng làm thơ

Tôi gọi cha tôi bằng 'thầy' vì ông cụ muốn tôi nhớ lại gốc gác của mình từ một làng nào đó ở đất Nghệ An. Người Bắc hay gọi cha là thầy, mẹ là u. Bên nội tôi là người di dân, vào Quảng Ngãi từ mấy trăm năm trước.

Lưu giữ ký ức thời hoa lửa bằng công nghệ

Lưu giữ ký ức thời hoa lửa bằng công nghệ

(GLO)- Chiến tranh đã lùi xa hơn nửa thế kỷ. Những người trực tiếp đi qua những năm tháng khốc liệt ấy, nay đều đã ở tuổi xế chiều. Nhưng thời gian không chờ đợi ai. Khi những nhân chứng dần vắng bóng, cũng là lúc nhiều mảnh ghép ký ức về lịch sử dân tộc không còn cơ hội được kể lại.

Lộ Diêu vươn mình từ gian khó

Lộ Diêu vươn mình từ gian khó

(GLO)- Trước đây, Lộ Diêu (phường Hoài Nhơn Đông) như một thế giới tách biệt với bên ngoài. Ðặc trưng địa hình và cuộc sống của người dân nơi đây được đúc kết qua câu: “Lộ Diêu một biển ba đèo - Gian nan đã vượt, khó nghèo đã qua”.

Tìm nhau giữa hòa bình - Kỳ 1: Cô y tá và vết sẹo trên đầu

Tìm nhau giữa hòa bình - Kỳ 1: Cô y tá và vết sẹo trên đầu

Không ít những đồng đội chung chiến hào những ngày khói lửa, sau ngày hòa bình vì nhiều lý do, họ đã không gặp lại hoặc chưa gặp lại nhau. Những đồng đội cùng quê may mắn là ít nhất mỗi năm lại được gặp nhau vào dịp kỷ niệm ngày nhập ngũ.

“Viết tiếp câu chuyện hòa bình” từ kỷ vật chiến trường

“Viết tiếp câu chuyện hòa bình” từ kỷ vật chiến trường

(GLO)- Luôn xem kỷ vật chiến trường là “gia tài”, song Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Nguyễn Văn Nhương (SN 1948, trú phường Diên Hồng, tỉnh Gia Lai) vẫn quyết định hiến tặng, như lời nhắn gửi đến thế hệ sau về những ngày cả đất nước gian khổ đấu tranh vì độc lập dân tộc.

Làng xưa nay đã đổi thay

Làng xưa nay đã đổi thay

(GLO)- Sau khi về định cư ở vùng đất mới, cuộc sống của người dân 4 làng Plei Pông, Kinh Pêng, Plei Trớ và Plei Hek thuộc xã Chư A Thai (là các làng căn cứ cách mạng trong 2 cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ, còn gọi là 4 làng Ðồn) đã có nhiều đổi thay rõ nét.

Mang con dấu đến bản

Mang con dấu đến bản

Hai đứa con đã 15 và 13 tuổi, nhưng lần đầu tiên, vợ chồng anh Moong Văn Phong mới đi làm khai sinh cho con khi Trung tâm Phục vụ hành chính công xã Nhôn Mai (Nghệ An) mang con dấu đến tận bản để làm thủ tục cho dân.

Những dáng lính vùng biên

Những dáng lính vùng biên

(GLO)- Tôi gặp những người lính trên những chuyến tàu tuần tra ngoài khơi xa, giữa những hải trình dọc dài duyên hải đồng hành, làm chỗ dựa bảo vệ ngư dân và giữ gìn an ninh trật tự trên biển quê hương; gặp họ giữa những vùng biên giới Campuchia heo hút đầy nắng gió.

Ruổi rong đời chăn vịt

Ruổi rong đời chăn vịt

(GLO)- Sau mỗi mùa gặt, những cánh đồng lúa ở các xã An Lương, An Hòa, An Vinh, Tuy Phước… lại rộn ràng bởi đàn vịt hàng nghìn con tìm về kiếm ăn. Gắn với đàn vịt, những người chăn vịt miệt mài rong ruổi qua nhiều cánh đồng, lấy mùa gặt làm nhịp mưu sinh.

Trầm tích sông Ba

Trầm tích sông Ba

(GLO)- Sông Ba đoạn qua xã Ia Dreh (tỉnh Gia Lai) mùa khô, vài con thuyền đánh cá nằm gối đầu nghỉ ngơi trên những doi cát. Chiều xuống, từ những bến sông, người dân vẫn ra tắm mát dù nước cạn tới mức có thể lội ra giữa dòng.

Ký ức buồn đau của những người lầm đường lạc lối

Ký ức buồn đau của những người lầm đường lạc lối

(GLO)- Sau nhiều năm vượt biên, cư trú bất hợp pháp tại Thái Lan, 5 người Việt quê Gia Lai đã bị Cảnh sát Thái Lan bắt giữ và trục xuất về nước. Trở về đoàn tụ với gia đình, họ mang theo ký ức buồn đau về những tháng ngày sống chui lủi, thiếu thốn, bệnh tật nơi đất khách quê người.