Không để phát sinh khoảng trống pháp lý khi xử lý vi phạm pháp luật

(GLO)- Thảo luận tại tổ đối với Dự án Nghị quyết về cơ chế, chính sách đặc thù để xử lý vi phạm pháp luật liên quan đến kinh tế nhà nước, kinh tế tư nhân và ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, các đại biểu nhấn mạnh yêu cầu không để phát sinh khoảng trống pháp lý.

xu-ly-vi-pham-phap-luat.jpg
Trưởng đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh Gia Lai Châu Ngọc Tuấn chủ trì phiên thảo luận tổ chiều 4-8. Ảnh: Đoàn ĐBQH tỉnh Gia Lai

Bảo đảm tính đồng bộ của hệ thống pháp luật

Theo ĐB Lê Hoàng Anh, tại khoản 3 Điều 9 của dự thảo Nghị quyết của Quốc hội về cơ chế, chính sách đặc thù để xử lý vi phạm pháp luật liên quan đến kinh tế nhà nước, kinh tế tư nhân và ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số quy định thời hạn hoãn phiên tòa tối đa 2 năm là chưa phù hợp với Bộ luật Tố tụng hình sự hiện hành, vốn chỉ cho phép hoãn phiên tòa sơ thẩm tối đa 30 ngày. Khoảng thời gian kéo dài có thể ảnh hưởng đến quyền con người, nếu bị cáo đang bị tạm giam trong thời gian chờ khắc phục.

Đồng thời, có sự thiếu thống nhất khi thời hạn tạm hoãn truy cứu trách nhiệm hình sự trong dự thảo Nghị quyết được quy định tối đa 2 năm và chưa có cơ chế gia hạn, trong khi dự thảo Bộ luật Hình sự (sửa đổi) cho phép thời hạn tối đa đến 3 năm. Theo đại biểu, việc hai dự thảo được xem xét tại cùng một kỳ họp nhưng quy định hai chuẩn mực khác nhau đối với cùng một vấn đề sẽ gây khó khăn trong quá trình áp dụng.

xu-ly-vi-pham-phap-luat-2.jpg
ĐB Lê Hoàng Anh đề nghị tiếp tục hoàn thiện một số quy định để tránh phát sinh khoảng trống pháp lý. Ảnh: Đoàn ĐBQH tỉnh Gia Lai

Từ đó, ĐB Hoàng Anh đề nghị tách riêng thời hạn hoãn phiên tòa, mỗi lần không quá 30 ngày như Bộ luật Tố tụng hình sự hiện hành, đồng thời cho phép hoãn nhiều lần trong tổng thời hạn tối đa 2 năm nếu người vi phạm thực hiện đúng lộ trình khắc phục hậu quả đã cam kết. Đồng thời, bổ sung cơ chế gia hạn thêm 1 năm đối với thời hạn tạm hoãn truy cứu trách nhiệm hình sự để thống nhất với dự thảo Bộ luật Hình sự (sửa đổi), bảo đảm tính đồng bộ của hệ thống pháp luật.

Góp ý về nguyên tắc áp dụng và giải thích từ ngữ tại Điều 3 và Điều 4, ĐB Lê Hoàng Anh đề nghị tiếp tục hoàn thiện một số quy định để tránh phát sinh khoảng trống pháp lý.

Theo đại biểu, dự thảo đã tiếp thu ý kiến thẩm tra khi bỏ quy định áp dụng xử phạt hành chính bổ sung sau khi miễn trách nhiệm hình sự, bởi quy định cũ mặc định áp dụng mức xử phạt cao nhất là chưa phù hợp.

Tuy nhiên, việc bãi bỏ hoàn toàn mà không bổ sung cơ chế thay thế sẽ dẫn đến khoảng trống pháp lý, vì không còn quy định bảo đảm người được miễn hoặc không bị truy cứu trách nhiệm hình sự vẫn phải thực hiện các trách nhiệm hành chính, dân sự, thuế tương ứng với hành vi vi phạm.

Do đó, đại biểu đề nghị bổ sung nguyên tắc tại Điều 3 theo hướng việc không truy cứu hoặc miễn trách nhiệm hình sự không đồng nghĩa với việc được miễn các nghĩa vụ pháp lý khác; việc xử phạt hành chính, nếu có, phải được áp dụng theo nguyên tắc cá thể hóa và xem xét quá trình khắc phục hậu quả.

Đối với khoản 3 Điều 4, ĐB Hoàng Anh cho rằng khái niệm “hậu quả thiệt hại” hiện chỉ giới hạn ở thiệt hại vật chất, trong khi nhiều thiệt hại đặc trưng trong lĩnh vực khoa học, công nghệ và chuyển đổi số như mất dữ liệu, xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ hay quyền riêng tư đều là những thiệt hại phi vật chất. Nếu giữ quy định như dự thảo thì các thiệt hại này sẽ không thuộc phạm vi điều chỉnh của Nghị quyết.

Vì vậy, đại biểu đề nghị bổ sung yếu tố thiệt hại phi vật chất vào khái niệm “hậu quả thiệt hại”, đồng thời giao Chính phủ quy định cụ thể tiêu chí xác định mức độ thiệt hại và biện pháp khắc phục phù hợp.

Bên cạnh đó, đại biểu cũng đề nghị làm rõ phạm vi điều chỉnh của dự thảo đối với khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Theo đại biểu, nếu dự thảo không điều chỉnh đối tượng này thì cần quy định rõ ngay tại Điều 4 để tránh cách hiểu khác nhau và bảo đảm nguyên tắc bình đẳng giữa các thành phần kinh tế theo quy định của Hiến pháp.

Về tổ chức thực hiện, ĐB Hoàng Anh đề nghị bổ sung quy định yêu cầu Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao và Viện Kiểm sát nhân dân tối cao ban hành văn bản hướng dẫn trước hoặc chậm nhất cùng thời điểm Nghị quyết có hiệu lực, bởi nhiều khái niệm cốt lõi của dự thảo chỉ có thể áp dụng khi có hướng dẫn cụ thể.

Đại biểu cũng đánh giá cao việc giao người đứng đầu Chính phủ, bộ, ngành, địa phương đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội của các hoạt động để làm căn cứ áp dụng chính sách. Tuy nhiên, cần quy định rõ các văn bản đánh giá này chỉ có giá trị là nguồn tài liệu, chứng cứ để cơ quan tiến hành tố tụng xem xét, không thay thế trách nhiệm chứng minh và không làm ảnh hưởng đến tính độc lập của hoạt động tố tụng.

Cần làm rõ sự cần thiết ban hành Nghị quyết

Tham gia góp ý, ĐB Phạm Ngọc Lâm cho rằng Ban soạn thảo cần tiếp tục hoàn thiện dự thảo trên nhiều phương diện, từ sự cần thiết ban hành, hồ sơ, phạm vi điều chỉnh đến hiệu lực thi hành nhằm bảo đảm tính khả thi và thống nhất của hệ thống pháp luật.

xu-ly-vi-pham-phap-luat-3.jpg
ĐB Phạm Ngọc Lâm đề nghị Ban soạn thảo có thêm các lập luận và giải trình thuyết phục để đại biểu Quốc hội có cơ sở đánh giá đầy đủ sự cần thiết của việc ban hành Nghị quyết theo trình tự, thủ tục rút gọn. Ảnh: Đoàn ĐBQH tỉnh Gia Lai

Về sự cần thiết ban hành Nghị quyết, ĐB Lâm cho biết dự thảo được trình Quốc hội theo trình tự, thủ tục rút gọn và dự kiến thông qua ngay, trong khi Quốc hội cũng đang xem xét dự án Bộ luật Hình sự (sửa đổi). Theo đại biểu, tại phiên họp thẩm tra, Ban soạn thảo cho biết nhiều chính sách trong dự thảo Nghị quyết sẽ tiếp tục được luật hóa trong Bộ luật Hình sự (sửa đổi).

ĐB Lâm cho hay Nghị quyết dự kiến có hiệu lực từ năm 2026, trong khi Bộ luật Hình sự (sửa đổi) dự kiến có hiệu lực từ năm 2027. Ban soạn thảo lý giải việc ban hành Nghị quyết ngay là yêu cầu cấp bách, bởi nếu chờ sửa đổi Bộ luật Hình sự sẽ mất nhiều thời gian. Tuy nhiên, theo đại biểu, khoảng cách giữa thời điểm có hiệu lực của hai văn bản chỉ khoảng nửa năm.

Do đó, ĐB Lâm đề nghị Ban soạn thảo có thêm các lập luận và giải trình thuyết phục để đại biểu Quốc hội có cơ sở đánh giá đầy đủ sự cần thiết của việc ban hành Nghị quyết theo trình tự, thủ tục rút gọn.

Về hồ sơ dự thảo, đại biểu nhận thấy nhiều khái niệm cốt lõi như “vì lợi ích chung”, “hiệu quả kinh tế - xã hội” mới chỉ được giải thích khái quát, trong khi theo quy định, hồ sơ trình dự thảo phải kèm theo các văn bản hướng dẫn thi hành. Tuy nhiên, đến nay hồ sơ dự thảo vẫn chưa có các tài liệu này.

Đại biểu cũng bày tỏ băn khoăn khi qua trao đổi với đại diện Tòa án và Viện Kiểm sát, nhiều ý kiến đều lo ngại về tính khả thi của Nghị quyết nếu được ban hành ngay trong khi chưa có hướng dẫn cụ thể, cũng chưa xác định cơ quan chủ trì xây dựng các văn bản hướng dẫn.

Theo đại biểu, việc trình Quốc hội thông qua Nghị quyết theo thủ tục rút gọn nhằm sớm tháo gỡ các vướng mắc là cần thiết, nhưng nếu thiếu các quy định hướng dẫn thì sẽ gây nhiều khó khăn cho quá trình tổ chức thực hiện trong thực tế.

Đối với phạm vi điều chỉnh, ĐB Phạm Ngọc Lâm đề nghị nghiên cứu mở rộng cách diễn đạt đối với lĩnh vực khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Theo đại biểu, cụm từ “ứng dụng khoa học, công nghệ” còn quá hẹp, chưa bao quát đầy đủ các hoạt động nghiên cứu, phát triển và đổi mới sáng tạo.

Đại biểu cũng lưu ý dự thảo hiện mới điều chỉnh hai khu vực là kinh tế nhà nước và kinh tế tư nhân, trong khi khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài chưa được đề cập. Vì vậy, Ban soạn thảo cần làm rõ định hướng xử lý đối với khu vực này để bảo đảm tính đồng bộ của hệ thống pháp luật.

Cùng với đó, ĐB Lâm đề nghị tiếp tục rà soát quy định về xử lý các vi phạm liên quan đến đất đai. Theo đại biểu, dự thảo dẫn chiếu áp dụng theo Nghị quyết số 29, trong khi nghị quyết này chỉ điều chỉnh các hành vi vi phạm xảy ra trước thời điểm Luật Đất đai có hiệu lực từ ngày 1-8-2024.

Nếu không quy định rõ phạm vi áp dụng sẽ dễ dẫn đến cách hiểu khác nhau và có thể tạo khoảng trống pháp lý đối với các vi phạm phát sinh sau thời điểm này nhưng trước khi Nghị quyết mới có hiệu lực. Vì vậy, Ban soạn thảo cần làm rõ để bảo đảm tính bao quát và khả thi khi triển khai thực hiện.

Đề xuất mở rộng phạm vi bảo vệ đối với vi phạm trong chuyển đổi số

Trong khi đó, ĐB Trần Kim Kha đề nghị hoàn thiện các quy định nhằm bảo đảm phạm vi điều chỉnh đầy đủ hơn đối với hoạt động chuyển đổi số; đồng thời làm rõ đối tượng và thời điểm áp dụng của Nghị quyết.

Theo đại biểu, khoản 9 Điều 4 của dự thảo mới chỉ xác định hậu quả của vi phạm pháp luật trong ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số ở hai khía cạnh là thiệt hại về tài sản và xâm phạm quyền tài sản, quyền sở hữu trí tuệ. Trong khi đó, thực tiễn chuyển đổi số còn phát sinh nhiều dạng vi phạm đặc thù như vi phạm quy định về bảo vệ dữ liệu cá nhân, an toàn thông tin mạng, an ninh mạng; sự cố làm gián đoạn dịch vụ công trực tuyến; sai sót trong quản lý, sử dụng ngân sách cho các nhiệm vụ công nghệ thông tin, chuyển đổi số; hay vi phạm trong đấu thầu, mua sắm giải pháp công nghệ.

xu-ly-vi-pham-phap-luat-4.jpg
ĐB Trần Kim Kha đề nghị hoàn thiện các quy định nhằm bảo đảm phạm vi điều chỉnh đầy đủ hơn đối với hoạt động chuyển đổi số. Ảnh: Đoàn ĐBQH tỉnh Gia Lai

ĐB Kha cho rằng, việc chưa bao quát các hành vi này có thể khiến cán bộ, công chức thực hiện chuyển đổi số không rõ mình có thuộc phạm vi được bảo vệ của Nghị quyết hay không, từ đó nảy sinh tâm lý e ngại khi triển khai các nền tảng số mới hoặc kết nối, chia sẻ dữ liệu.

Từ đó, đại biểu kiến nghị sửa đổi khoản 9 Điều 4 theo hướng mở rộng khái niệm vi phạm, bổ sung các quy định liên quan đến dữ liệu, an toàn thông tin mạng, an ninh mạng, đầu tư, mua sắm, quản lý và sử dụng ngân sách nhà nước cho hoạt động khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Đồng thời, bổ sung các hậu quả như gây gián đoạn hoạt động của hệ thống thông tin, dịch vụ công hoặc xâm phạm quyền đối với dữ liệu của cơ quan, tổ chức, cá nhân.

Cũng theo ĐB Trần Kim Kha, dự thảo Nghị quyết chưa thống nhất về phạm vi thời điểm áp dụng giữa Chương II và Điều 13. Cụ thể, trong khi Chương II không giới hạn thời điểm xảy ra hành vi vi phạm, thì khoản 2 và khoản 3 Điều 13 chỉ quy định việc rà soát đối với các vụ án, vụ việc xảy ra trước ngày Nghị quyết có hiệu lực thi hành.

Theo đại biểu, cách quy định này tạo ra hai định hướng chính sách khác nhau: một mặt hướng tới xử lý các vụ việc tồn đọng, mặt khác lại cho thấy Nghị quyết có thể áp dụng đối với các hành vi phát sinh trong thời gian có hiệu lực.

Sự thiếu thống nhất này khiến chưa xác định rõ Nghị quyết được ban hành nhằm giải quyết các vi phạm trong quá khứ hay đồng thời tạo cơ chế bảo vệ những người thực hiện đổi mới sáng tạo trong thời gian tới. Điều đó có thể làm cán bộ, công chức đang triển khai nhiệm vụ chuyển đổi số băn khoăn về phạm vi được bảo vệ, từ đó ảnh hưởng đến tâm lý và động lực thực thi nhiệm vụ.

Từ thực tế trên, đại biểu đề nghị bổ sung quy định tại Điều 1 hoặc Điều 12 theo hướng các cơ chế, chính sách của Nghị quyết được áp dụng đối với cả hành vi vi phạm xảy ra trước khi Nghị quyết có hiệu lực và các hành vi phát sinh trong thời gian Nghị quyết có hiệu lực. Riêng nhiệm vụ rà soát, lập danh sách theo khoản 2 và khoản 3 Điều 13 chỉ áp dụng đối với các vụ án, vụ việc xảy ra trước thời điểm Nghị quyết có hiệu lực thi hành.

Cần hoàn thiện cơ chế bảo vệ hoạt động đổi mới sáng tạo

Cùng mối quan tâm với dự thảo Nghị quyết, ĐB Vũ Hồng Quân đề nghị hoàn thiện nhiều quy định nhằm bảo đảm phù hợp với đặc thù của hoạt động nghiên cứu, đổi mới sáng tạo và tạo điều kiện để doanh nghiệp yên tâm phát triển.

xu-ly-vi-pham-phap-luat-5.jpg
ĐB Vũ Hồng Quân đề xuất bổ sung quy định bảo đảm hoạt động bình thường của doanh nghiệp trong quá trình áp dụng Nghị quyết. Ảnh: Đoàn ĐBQH tỉnh Gia Lai

Theo đại biểu, dự thảo Nghị quyết có ý nghĩa quan trọng trong việc thể chế hóa kịp thời các chủ trương của Đảng về phát triển kinh tế tư nhân, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Nghị quyết không chỉ hướng đến xử lý nhân văn các vi phạm đã xảy ra, ưu tiên khắc phục hậu quả, tối ưu nguồn lực xã hội mà còn tạo nền tảng xây dựng cơ chế bảo vệ rủi ro cho hoạt động đổi mới sáng tạo trong tương lai.

Tuy nhiên, một số điều kiện và cơ chế trong dự thảo hiện chủ yếu được thiết kế theo mô hình các vụ việc lớn của khu vực công, có thể khiến doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp công nghệ, doanh nghiệp khởi nghiệp đổi mới sáng tạo khó tiếp cận chính sách.

Đại biểu đề nghị làm rõ nội hàm và cơ chế áp dụng điều kiện “đã hoàn thành, mang lại hiệu quả” quy định tại khoản 3 Điều 5 và điểm c khoản 2 Điều 6. Theo ĐB Quân, đối với các nền tảng số, hệ thống trí tuệ nhân tạo hay kết quả nghiên cứu khoa học, hiệu quả thường chỉ được kiểm chứng sau một thời gian vận hành thực tế, thậm chí có độ trễ từ 3-5 năm.

Vì vậy, cần sửa đổi theo hướng chấp nhận các hoạt động đã hoàn thành hoặc hoàn thành theo từng giai đoạn, đã đưa vào khai thác, sử dụng và “mang lại hoặc có cơ sở xác định, kiểm chứng được về hiệu quả kinh tế - xã hội”. Đồng thời, cần hướng dẫn cụ thể tiêu chí xác định mức độ hoàn thành và hiệu quả trên các phương diện kinh tế, xã hội, quản trị, khoa học - công nghệ và môi trường.

Đối với Điều 6 về loại trừ trách nhiệm hình sự trong ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, ĐB Quân kiến nghị thay quy định “áp dụng đầy đủ các biện pháp phòng ngừa” bằng quy định “đã áp dụng các biện pháp phòng ngừa phù hợp với trình độ khoa học, công nghệ, điều kiện thực tế và thông tin có được tại thời điểm thực hiện”. Theo đại biểu, đổi mới sáng tạo luôn gắn với hoạt động thử nghiệm nên không phải lúc nào cũng có quy trình hoàn chỉnh.

Bên cạnh đó, đại biểu đề nghị mở rộng phạm vi áp dụng cơ chế này đối với người quản lý doanh nghiệp, nhà đầu tư, nhà khoa học, chuyên gia, người lao động và các cá nhân tham gia hoạt động đổi mới sáng tạo trong khu vực kinh tế tư nhân, nhất là các mô hình hợp tác giữa viện nghiên cứu, trường đại học và doanh nghiệp.

ĐB Quân cũng đề xuất bổ sung quy định bảo đảm hoạt động bình thường của doanh nghiệp trong quá trình áp dụng Nghị quyết. Cụ thể, việc xử lý cá nhân vi phạm không nên mặc nhiên làm đình chỉ hoạt động hợp pháp của doanh nghiệp; cho phép thay thế tài sản bị kê biên, phong tỏa bằng tiền, tài sản hoặc biện pháp bảo đảm khác có giá trị tương đương.

Đồng thời, cho phép doanh nghiệp sử dụng phần tài sản, dòng tiền không cần thiết để bảo đảm thi hành án nhằm chi trả lương, bảo hiểm xã hội, nghĩa vụ thuế và thực hiện các hợp đồng đang có. Theo ĐB Quân, cơ chế này sẽ giúp doanh nghiệp duy trì hoạt động, tiếp tục tạo nguồn lực khắc phục hậu quả, nhưng không áp dụng trong trường hợp có căn cứ cho rằng tổ chức, cá nhân tẩu tán tài sản, tiếp tục vi phạm hoặc cản trở hoạt động tố tụng.

Các tin khác

Chủ tịch UBND tỉnh Gia Lai làm việc với Hiệp hội Kinh tế - Văn hóa Hàn Việt và các doanh nghiệp Hàn Quốc

Chủ tịch UBND tỉnh Gia Lai làm việc với Hiệp hội Kinh tế - Văn hóa Hàn Việt và doanh nghiệp Hàn Quốc

(GLO)- Sáng 19-10, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh Phạm Anh Tuấn đã làm việc trực tuyến với Hiệp hội Kinh tế - Văn hóa Hàn Việt (KOVECA) và đại diện các doanh nghiệp Hàn Quốc nhằm trao đổi chương trình hợp tác, xúc tiến đầu tư tại Gia Lai.

Phó Chủ tịch Quốc hội đề nghị bảo đảm chất lượng dự án đường Hồ Chí Minh

Phó Chủ tịch Quốc hội đề nghị bảo đảm chất lượng dự án đường Hồ Chí Minh

(GLO)- Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Hồng Diên đề nghị Chính phủ làm rõ điều kiện kết thúc mục tiêu đầu tư đường Hồ Chí Minh quy mô 2 làn xe; xác định trách nhiệm các đoạn tuyến chậm tiến độ, kiểm soát chặt vốn đầu tư và xây dựng lộ trình nâng cấp, mở rộng phù hợp với khả năng cân đối nguồn lực.

Tháo gỡ vướng mắc, khơi thông nguồn lực, đẩy mạnh liên kết vùng

Tháo gỡ vướng mắc, khơi thông nguồn lực, đẩy mạnh liên kết vùng

(GLO)- Thảo luận ở tổ chiều 18-10, các thành viên Đoàn ĐBQH tỉnh Gia Lai kiến nghị Trung ương tháo gỡ vướng mắc về cơ chế, chính sách; huy động hiệu quả các nguồn lực đầu tư, ưu tiên phát triển hạ tầng giao thông chiến lược, tạo động lực tăng trưởng bền vững cho Gia Lai và khu vực Tây Nguyên.

Hoàn thiện chính sách phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa

Hoàn thiện chính sách phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa

(GLO)- Góp ý đối với dự thảo Luật Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa, các thành viên Đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh Gia Lai đề xuất hoàn thiện cơ chế tiếp cận vốn, đồng bộ chính sách thuế, tháo gỡ những điểm nghẽn về thể chế, thị trường, nhằm thúc đẩy doanh nghiệp nhỏ và vừa phát triển bền vững.

Ký kết VEFTA: Mở rộng thị trường, đón dòng vốn chất lượng cao

Ký kết VEFTA: Mở rộng thị trường, đón dòng vốn chất lượng cao

(GLO)- Việt Nam và Hiệp hội Mậu dịch tự do châu Âu (EFTA) chính thức ký kết Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam-EFTA (VEFTA) tại Hà Nội. Sự kiện kỳ vọng mở rộng cơ hội xuất nhập khẩu, thu hút đầu tư chất lượng cao, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng sức cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam.

Tăng cường giám sát, bảo vệ nhà đầu tư chứng khoán

Tăng cường giám sát, bảo vệ nhà đầu tư chứng khoán

(GLO)- Góp ý dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều Luật Chứng khoán, các thành viên Đoàn ĐBQH tỉnh Gia Lai đề nghị gắn đơn giản hóa thủ tục hành chính với kiểm soát rủi ro, bảo vệ quyền lợi nhà đầu tư; đồng thời tăng cường nguồn lực cho cơ quan quản lý để nâng cao hiệu quả giám sát thị trường.

Chủ tịch UBND tỉnh Phạm Anh Tuấn gửi thư thăm hỏi và tri ân gia đình cô giáo Phạm Thị Anh Thư

Chủ tịch UBND tỉnh Phạm Anh Tuấn gửi thư thăm hỏi và tri ân gia đình cô giáo Phạm Thị Anh Thư

(GLO)- Chủ tịch UBND tỉnh Phạm Anh Tuấn gửi thư thăm hỏi, tri ân gia đình cô giáo Phạm Thị Anh Thư (xã Đak Pơ) trước nghĩa cử hiến tặng mô, tạng cứu người, góp phần lan tỏa thông điệp nhân văn và tiếp nối sự sống. Báo và phát thanh, truyền hình Gia Lai đăng toàn văn thư của Chủ tịch UBND tỉnh.

Hoàn thiện Luật Bưu chính: Bảo vệ người dùng, làm rõ phạm vi hoạt động

Hoàn thiện Luật Bưu chính: Bảo vệ người dùng, làm rõ phạm vi hoạt động

(GLO)- Góp ý vào dự án Luật Bưu chính (sửa đổi), các ĐBQH đề nghị bổ sung các quy định nhằm bảo vệ tài sản, dữ liệu cá nhân và quyền riêng tư của người sử dụng dịch vụ; cũng như làm rõ phạm vi hoạt động bưu chính, phân định với dịch vụ vận tải hàng hóa, bảo đảm tính thống nhất và khả thi.

Gia Lai có 2 doanh nghiệp có sản phẩm đạt Thương hiệu quốc gia năm 2026

Gia Lai có 2 doanh nghiệp có sản phẩm đạt Thương hiệu quốc gia năm 2026

(GLO)- Chiều 16-10, tại Hà Nội, Hội đồng Thương hiệu quốc gia Việt Nam phối hợp với Bộ Công Thương tổ chức lễ công bố sản phẩm đạt Thương hiệu quốc gia Việt Nam lần thứ 10. Tại kỳ xét chọn này, Gia Lai có 2 doanh nghiệp sở hữu các sản phẩm đạt Thương hiệu quốc gia.

Làm rõ nguyên nhân, tháo gỡ vướng mắc các dự án chậm tiến độ

Làm rõ nguyên nhân, tháo gỡ vướng mắc các dự án chậm tiến độ

(GLO)- Chiều 16-10, Tổ giám sát số 1 do Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Phó Chủ tịch Thường trực HĐND tỉnh Trương Văn Đạt làm tổ trưởng đã tiến hành giám sát tình hình triển khai các dự án đầu tư ngoài ngân sách nhà nước giai đoạn 2021-2025 tại phường Quy Nhơn Đông.

gia-lai-xu-ly-dut-diem-ton-tai-chong-khai-thac-IUU

Gia Lai: Xử lý dứt điểm tồn tại trong chống khai thác IUU

(GLO)- Phó Chủ tịch UBND tỉnh Gia Lai Dương Mah Tiệp vừa ký ban hành Văn bản số 12699/UBND-NNMT yêu cầu các sở, ngành, lực lượng và địa phương liên quan khẩn trương khắc phục những tồn tại trong đợt cao điểm chống khai thác hải sản bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định (IUU).

Lấy nâng cao đời sống nhân dân làm thước đo hiệu quả các chương trình mục tiêu quốc gia

Lấy nâng cao đời sống nhân dân làm thước đo hiệu quả các chương trình mục tiêu quốc gia

(GLO)- Sáng 15-10, chủ trì Hội nghị toàn quốc triển khai Chương trình mục tiêu quốc gia (MTQG) về phát triển văn hóa - xã hội, nông thôn, dân tộc miền núi giai đoạn 2026-2035, Thủ tướng Lê Minh Hưng yêu cầu phân cấp triệt để và lấy nâng cao đời sống nhân dân làm thước đo hiệu quả thực hiện.

Đoàn giám sát của Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội làm việc với UBND tỉnh Gia Lai

Đoàn giám sát của Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội làm việc với UBND tỉnh Gia Lai

(GLO)- Sáng 15-10, Đoàn giám sát của Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội đã làm việc với UBND tỉnh Gia Lai về việc ban hành và thực hiện chính sách, pháp luật về chuyển đổi số theo Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22-12-2024 của Bộ Chính trị giai đoạn 2024-2026 trên địa bàn tỉnh.