Loài chuột 'lạ' biết ân ái là chết vẫn không ngại 'yêu' 14 tiếng

Loài chuột kaluta đực sẽ giao phối với nhiều con cái khác nhau. Chúng giao phối liên tục trong nhiều ngày và mỗi lần đều có thời gian rất dài. Có nhiều con Kaluta đực một lần giao phối lâu tới 14 giờ.
Trên thế giới không thiếu những điều kỳ diệu, những loài động vật kỳ lạ và loài chuột túi Kaluta ở Australia là một trong số đó.
Tờ New York Times đưa tin, tiến sĩ Genevieve Hayes gần đây đã tiến hành nghiên cứu về hành vi sinh sản của chuột túi Kaluta và vô cùng ngạc nhiên khi phát hiện, tình dục là hành vi tương đương với tự sát ở chuột Kaluta đực.
Theo tìm hiểu, chuột túi Kaluta (Dasykaluta rosamondae) là một loài thú có túi nhỏ, bề ngoài giống chuột, nặng từ 20 - 40 gram, có bộ lâu màu nâu đỏ, chỉ xuất hiện ở vùng Pilbara khô cằn thuộc tây bắc Australia.
Các nhà nghiên cứu phát hiện, những con Kaluta đực thường xuyên được nhìn thấy trước mùa sinh sản, thế nhưng ngay sau mùa sinh sản không lâu, chúng biến mất với số lượng lớn.
Tìm hiểu sâu hơn, các nhà khoa học phát hiện, những con chuột túi Kaluta đực chết hàng loạt là do thói quen giao phối cực đoan và khác thường của chúng.
Trong giai đoạn tìm kiếm bạn tình, những con Kaluta cái có khả năng đặc biệt là lưu trữ tinh trùng từ nhiều con đực khác nhau, thậm chí là bạn tình thường xuyên của những con đực khác nhau. Điều này đồng nghĩa với việc mỗi con kaluta đực sẽ giao phối với nhiều con cái khác nhau.
Chúng giao phối liên tục trong nhiều ngày và mỗi lần đều có thời gian rất dài. Có nhiều con Kaluta đực một lần giao phối lâu tới 14 giờ.
Cũng vì vậy, trước mùa giao phối, những con Kaluta thường rất khỏe mạnh, sung mãn. Sau vài tuần, chúng yếu hơn rất nhiều và hàng loạt con đực chết.
"Cơ chế sinh học tự nhiên của loài Kaluta cho thấy chúng có sự "đầu tư mạnh mẽ vào mùa sinh sản. Bằng chứng là tinh hoàn của chúng trở nên lớn hơn ở thời điểm này. Đấy cũng là một yếu tố khiến chúng dễ tử vong hàng loạt", tiến sĩ Hayes cho biết.
Sau khi nhận được lượng tinh trùng cần thiết, những con Kaluta cái sẽ mang thai. Mỗi lần mang thai, chúng sinh được từ 6 - 8 con non, những con non này có thể là con của 3 con Kaluta đực khác nhau.
Cũng theo tiến sĩ Hayes, những động vật có vú nhỏ có tuổi thọ rất ngắn, thường không quá một năm. Vì vậy để có thể duy trì nòi giống, chúng sẽ tận lực sinh sản. Mặc dù hành vi giao phối của chúng là cực đoan thế nhưng cũng rất thông minh.
Kiều Dụ (Theo CNT/Kiến Thức)

Các tin khác

Apple HomeView: Màn hình thông minh tích hợp trợ lý AI

Apple HomeView: Màn hình thông minh tích hợp trợ lý AI

(GLO)- Apple vừa giới thiệu HomeView, thiết bị màn hình thông minh hướng đến vai trò trung tâm điều khiển ngôi nhà kết nối. Sản phẩm kết hợp màn hình 7 inch, trợ lý Siri AI, gọi video FaceTime, giải trí và quản lý thiết bị gia dụng, chú trọng khả năng cá nhân hóa và bảo vệ dữ liệu người dùng.

Công đoàn phường An Phú ra mắt mô hình "Tư vấn pháp luật và trợ lý ảo AI trực tuyến"

Công đoàn phường An Phú ra mắt mô hình "Tư vấn pháp luật và trợ lý ảo AI trực tuyến"

(GLO)- Sáng 10-10, Công đoàn phường An Phú (tỉnh Gia Lai) tổ chức Hội nghị công bố quyết định thành lập 3 Công đoàn cơ sở (CĐCS) và ra mắt mô hình “Tư vấn pháp luật và trợ lý ảo AI công đoàn trực tuyến”; đồng thời tập huấn kỹ năng số, ứng dụng AI, bảo đảm an ninh, an toàn trên không gian mạng.

Gần 200 cán bộ phường Thống Nhất được tập huấn kỹ năng số

Gần 200 cán bộ phường Thống Nhất được tập huấn kỹ năng số

(GLO)- Sáng 10-10, Ban Chỉ đạo về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo phường Thống Nhất (tỉnh Gia Lai) phát động hưởng ứng Ngày Chuyển đổi số quốc gia, Ngày Công dân số Việt Nam năm 2026 và tập huấn kỹ năng số cho gần 200 cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức trên địa bàn.

Ba nhà khoa học giành giải Nobel Y học 2026 nhờ 'công tắc' ánh sáng

Ba nhà khoa học giành giải Nobel Y học 2026 nhờ 'công tắc' ánh sáng

Chiều 5-10, Hội đồng Nobel tại Viện Karolinska quyết định trao Giải Nobel Y/Sinh học năm 2026 cho 3 nhà khoa học Karl Deisseroth, Peter Hegemann và Georg Nagel, “vì những khám phá liên quan đến các kênh ion được điều khiển bằng ánh sáng và công nghệ quang di truyền học (optogenetics)”.