“Thời hoa lửa” của đôi vợ chồng chiến sĩ Trường Sơn

(GLO)- Trong ngôi nhà nhỏ ở làng Ia Tum (xã Ia Nan, huyện Đức Cơ, tỉnh Gia Lai) có 1 cặp vợ chồng đều trải qua “thời hoa lửa” Trường Sơn huyền thoại. Đó là ông Lê Đức Chinh (SN 1952) và bà Lê Thị Chỉnh (SN 1951). Ông Chinh hiện là Trưởng ban liên lạc Hội Truyền thống Trường Sơn huyện Đức Cơ.

1logo-8718.jpg

Ông Chinh và bà Chỉnh cùng lớn lên ở làng Nun, xã Bắc Lương, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa. Những năm phơi phới thanh xuân, cả hai luôn bị thôi thúc bởi tiếng gọi vì miền Nam ruột thịt.

Bà Chỉnh-người chị cả trong gia đình có 5 người vẫn chưa thể quên những tháng ngày khốn khó nhưng đầy hào hùng ấy. Lớp lớp thanh niên theo lời kêu gọi “Thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người” vì miền Nam, quyết tâm thống nhất đất nước. Nhìn thanh niên trai tráng trong làng từng người, từng người xếp bút nghiên lên đường nhập ngũ, những nữ sinh như bà Chỉnh cũng không khỏi háo hức, mong chờ tới ngày được gọi tên.

Vậy nên, năm 1968, cô thiếu nữ tuổi 17 của làng Nun ngay sau khi học xong lớp 7/10 đã tạm gác lại ước mơ con chữ để đăng ký vào thanh niên xung phong. “Hồi ấy, tôi ham học lắm, luôn ước mơ trở thành cô giáo. Tôi cũng rất thích trở thành thanh niên xung phong vì được đi đầu, được ra tiền tuyến. Trong làng, nhiều chị em cũng rủ nhau đi nên khí thế rộn ràng, hừng hực, ai cũng mong góp sức bảo vệ quê hương”-bà Chỉnh thổ lộ.

Bà Chỉnh được biên chế về Đoàn 559 với nhiệm vụ mở đường nơi “tuyến lửa”. Những chuyến hành quân băng rừng hàng tháng trời khiến đôi chân các cô gái rớm máu. Càng ngày, những bước chân càng đưa họ tiến vào những cánh rừng sâu hun hút. Bà Chỉnh cùng đồng đội đã trực tiếp tham gia phục vụ chiến đấu ở Mặt trận Đường 9-Nam Lào năm 1971 với nhiệm vụ “xẻ dọc Trường Sơn”.

Hàng ngày, những cô gái mở đường như bà Chỉnh với cuốc xẻng hăng say xúc đất đá, chặt cây dọn đường cho xe qua. Đôi tay phồng rộp lúc nào không hay. Những bữa ăn vội vã với củ mì, củ mài, rau rừng, lương khô kéo dài đằng đẵng ngày này qua tháng khác.

Đặc biệt, họ thường xuyên phải đối mặt với mưa bom bão đạn của quân địch. Chúng tập trung hỏa lực nhằm chặn bước tiến của bộ đội chủ lực bằng cách nhắm vào những mũi tiến công giữa núi rừng Trường Sơn mà thanh niên xung phong mở đường. Đơn vị của bà Chỉnh do đó phải làm việc bí mật với phương châm “Ở không nhà, đi không dấu, nấu không khói, nói không tiếng”.

Hơn nửa thế kỷ đã trôi qua, bà Chỉnh vẫn còn ám ảnh âm thanh của máy bay địch vần vũ trên những tán cây. Khi nghe tiếng ù ù của máy bay, bầu trời như tối sầm lại, lực lượng thanh niên xung phong vội vã vào hầm trú ẩn. Khi tiếng gầm rú, bom đạn xé trời tạm lắng, họ lập tức rời khỏi nơi ẩn nấp, nhanh chóng triển khai đội hình san lấp hố bom, thông đường cho các đoàn xe của ta di chuyển.

Bà Chỉnh hồi nhớ: “Có lần bất ngờ bom nổ ngay phía trước khiến tôi ngã quỵ, đất đá tung tóe. May mắn là tôi không bị thương. Nhưng không phải ai cũng thoát hiểm mãi như thế. Đồng đội tôi không ít người trúng bom bị thương, thậm chí mãi mãi nằm lại giữa núi rừng. Chúng tôi phải chôn cất sơ sài rồi nén đau thương để tiếp tục nhiệm vụ. Phải có mặt ở chiến trường thời điểm ấy mới quý trọng cuộc sống của mình như thế nào”.

Sau chiến dịch Đường 9-Nam Lào, bà Chỉnh trở về quê hương và đem lòng yêu thương ông Chinh. Đầu năm 1972, ông nhận lệnh nhập ngũ nhưng bà Chỉnh vẫn quyết định tổ chức đám cưới. Dù vừa ở tiền tuyến trở về, bà hiểu hơn ai hết lằn ranh mong manh giữa sự sống và cái chết nhưng vẫn quyết định đi đến hôn nhân với người chuẩn bị ra trận. Giữa năm 1972, ông Chinh lên đường vào miền Nam khi bà Chỉnh mang thai con đầu lòng.

Ông Chinh tâm sự: “Chia tay gia đình trong hoàn cảnh ấy, lòng tôi quyến luyến và bứt rứt vô cùng. Vợ mới cưới, con chưa chào đời, bản thân cũng chưa kịp báo hiếu cha mẹ dù là con lớn trong nhà. Mẹ tôi khóc vì lo lắng, bởi thời điểm này, thanh niên tại địa phương lên đường thực hiện nghĩa vụ nhiều, có người bị thương, người hy sinh. Còn cha tôi thì lại động viên, cổ vũ tinh thần. Cũng bởi, ông từng là người lính tham gia kháng chiến chống Pháp. Vì vậy, tôi quyết tâm đi theo tiếng gọi của Tổ quốc”.

2vn-1357.jpg
Cả 2 ông bà đã được Chủ tịch nước tặng Huy chương kháng chiến với những đóng góp của mình. Ảnh: Văn Ngọc

Khi hành quân đến địa phận tỉnh Quảng Trị, ông Chinh nhận được tin báo vợ đã sinh hạ con trai đầu lòng, đặt tên là Lê Đức Chính. Hay tin, ông vỡ òa sung sướng. Niềm vui ấy giúp ông thêm vững vàng tay súng.

Thời gian đầu, mỗi khi đơn vị dừng chân tại các binh trạm, ông tranh thủ viết thư về cho gia đình. Những dòng chữ viết vội gửi gắm biết bao tình cảm của người lính nơi tuyến đầu về cho gia đình, vợ con ở hậu phương. Những lá thư nhiều khi mất hàng tháng trời mới có thể đến tay người thân quê nhà, trong số đó, không ít lá thư bị thất lạc.

Đó là những tháng ngày bà Chỉnh vò võ đợi chồng trong xiết bao lo âu. Đã từng chứng kiến đau thương, mất mát ngay trước mắt mình nên bà Chỉnh hiểu rõ số phận của những người lính nơi trận mạc. Tối đến, bà ôm con mà nước mắt cứ lăn dài. Thế nhưng, trong trái tim mình, bà vẫn không thôi hy vọng tới ngày chiến thắng, ngày ông Chinh trở về.

Bà Chỉnh nghẹn ngào chia sẻ: “Thời ấy, cả làng đều ngóng trông tin tức từ chiến trường nhưng không được bao nhiêu, có lúc bặt vô âm tín. Thư từ ngày càng ít dần, có khi 2 năm mới nhận được thư của chồng và cũng là thư cũ. Vậy nên, tôi biết rằng các anh đã vào trận đánh lớn.

Mỗi lúc xã thông báo có giấy báo tử từ miền Nam chuyển về, tim tôi thon thót nỗi sợ hãi. Cũng có tin đơn vị anh hy sinh rất nhiều khiến tôi hoang mang vô cùng. Đến ngày giải phóng miền Nam, tôi cũng không biết chồng mình còn sống hay không. Cái cảm giác chờ đợi ấy tôi không thể nào quên được”.

Sau khi được điều chuyển qua nhiều đơn vị, ông Chinh về công tác tại Đoàn 559 với nhiệm vụ vận lương tải đạn theo các đơn vị chủ lực. Đơn vị ông hành quân liên tục theo nhiệm vụ chiến lược từ Lào đến Việt Nam. Có thời gian, đơn vị phải ém quân ở các binh trạm trong điều kiện vô cùng gian khó. Bom đạn liên miên, cơm không đủ ăn, thường xuyên phải đào củ mài, hái rau rừng để lấp cái bụng trống. Nhưng nỗi ám ảnh lớn nhất là những cơn sốt rét hành hạ.

“Giữa chốn rừng thiêng nước độc, bộ đội bị sốt rét rất nhiều nhưng thuốc thang lại vô cùng khan hiếm. Khi đóng ở binh trạm tại Attapeu (Lào), tôi tưởng chừng cũng không qua khỏi bởi trận sốt rét khiến chân tay rã rời, lạnh toát, nhiều ngày mê man. Không ít đồng đội của tôi gặp phải sốt rét ác tính đã không qua khỏi.

Phải nhận những đau thương, mất mát như thế nhưng khi hay tin thắng lợi, chúng tôi lại hừng hực khí thế làm việc với niềm tin giải phóng miền Nam, trở về với gia đình”-ông Chinh bộc bạch.

Anh Lê Đức Chính-con trai ông Lê Đức Chinh: “Tôi vẫn nhớ như in ngày bố tôi trở về. Vừa thấy một người mặc quần áo bộ đội bước vào nhà, mẹ tôi òa khóc. Mẹ nói với tôi, đó là bố. Vì còn nhỏ nên tôi thấy người lạ thì chạy đi chỗ khác. Sau này, khi hiểu về câu chuyện của cha mẹ mình, tôi thấy thật tự hào vì ông bà đã góp một phần công sức cho đất nước. Khi vào Gia Lai sinh sống, bố tôi cũng thường xuyên có những buổi nói chuyện với các em học sinh về truyền thống cách mạng, tinh thần yêu nước, cũng như lý tưởng, hoài bão của thế hệ trẻ để cống hiến, góp sức cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”.

Vượt qua những trận sốt rét quái ác, ông Chinh cùng đồng đội tiếp tục tham gia những trận đánh lớn mang ý nghĩa quyết định. Người lính làng Nun còn nhớ như in trận đánh vào Sân bay Hòa Bình, góp phần làm nên chiến thắng Buôn Ma Thuột hào hùng trong những ngày tháng 3-1975 lịch sử.

2 giờ sáng 10-3-1975, bộ đội chủ lực chia làm nhiều mũi tấn công áp sát sân bay. Đây là cứ điểm địch bố trí nhiều hỏa lực bởi tính chất chiến lược. Địch ở trong các lỗ châu mai bắn đạn ra tua tủa, máy báy địch thì ném bom xối xả, quân ta thương vong khá nhiều. Ông Chinh khi ấy được giao nhiệm vụ tiếp đạn vừa vận chuyển thương binh lui về hậu phương.

“Giữa làn đạn chi chít trên đầu, ranh giới giữa sự sống và cái chết mỏng như sợi tóc. Tôi quá may mắn trong trận đánh ấy trong khi nhiều đồng đội ngã xuống lúc chiến thắng đã cận kề. Sau đó, chúng tôi tiếp tục tiến vào Sài Gòn.

2 năm sau ngày đất nước thống nhất, tôi được xuất ngũ trở về địa phương, gia đình vỡ òa hạnh phúc ôm nhau mà khóc. Con trai tôi năm ấy 5 tuổi, thấy người lạ thì chạy trốn. Trở về quê nhà với những người ruột thịt khi đất nước hòa bình mà không sao kìm được nước mắt”-ông Chinh nghẹn ngào.

2logo-7722.jpg

Các tin khác

Bánh cuốn của người Tày trên vùng đất lúa

Bánh cuốn của người Tày trên vùng đất lúa

(GLO)- Từ hàng chục năm trước, nhiều gia đình người Tày từ các tỉnh miền núi phía Bắc di cư vào vùng đất Phú Thiện (tỉnh Gia Lai) với khát khao xây dựng cuộc sống mới. Cũng từ đó, món bánh cuốn hay còn được gọi là bánh cuốn canh được họ mang theo đã trở thành đặc sản của vùng đất này.

Mưu sinh trên những cánh rừng

Mưu sinh trên những cánh rừng

(GLO)- Việc trồng rừng đã tạo cơ hội việc làm cho nhiều người dân xã Song An, thị xã An Khê, tỉnh Gia Lai. Giai đoạn nào, công việc ấy, người lao động rong ruổi trên những cánh rừng, nhọc nhằn mưu sinh, kiếm tiền trang trải cuộc sống.

Những “tỷ phú F2” ở điểm kinh tế mới 17-3

Những “tỷ phú F2” ở điểm kinh tế mới 17-3

(GLO)- Vượt qua bao khó khăn, vất vả, những hộ di dân từ nội thị ra điểm kinh tế mới 17-3 ngày trước (nay thuộc phường Yên Thế, TP. Pleiku) đã kiên trì bám trụ, biến vùng đất hoang vu trở thành khu dân cư trù phú.

Hành trình khẳng định giá trị cà phê

Hành trình khẳng định giá trị cà phê

(GLO)- Suốt mấy thập kỷ qua, nhiều nông dân ở Gia Lai vẫn kiên trì bám trụ với cây cà phê, dẫu cho thời tiết bất lợi hay giá cả bấp bênh. Với họ, cà phê không chỉ là sinh kế mà còn là niềm tự hào của vùng đất bazan đầy nắng và gió. 

Thầy Vũ Văn Tùng đến nhà động viên em Đinh H’Loanh (làng Bi Gia) quay trở lại lớp. Ảnh: V.C

Mùa đi “bắt” học trò ở Pờ Tó

(GLO)- Khi những đóa hoa pơ lang đỏ rực núi rừng thì cũng là lúc các thầy-cô giáo nơi “hốc” Pờ Tó (huyện Ia Pa, tỉnh Gia Lai) lại phải băng rừng, lội suối, đến tận chòi rẫy của người dân để vận động học sinh đến trường. 

Ông Đinh Plih sắp xếp bộ cồng chiêng và các vật dụng sẵn sàng đem theo khi đi trình diễn, quảng bá văn hóa dân tộc Bahnar. Ảnh: N.M

Đinh Plih: Tự hào “vốn liếng” văn hóa Bahnar

(GLO)- “Ý nghĩa của công việc không phải chỉ nằm ở chỗ tiền bạc mà còn ở nhu cầu về tinh thần, biểu hiện của giá trị, một vốn liếng để tự hào”. Câu nói này thật đúng đối với ông Đinh Plih (xã Tơ Tung, huyện Kbang, tỉnh Gia Lai). Với ông, hạnh phúc đơn giản là bản thân được sống trọn với đam mê.

Một dải biên cương nặng nghĩa tình - Kỳ 1: Những người cha nơi phên giậu

Một dải biên cương nặng nghĩa tình - Kỳ 1: Những người cha nơi phên giậu

(GLO)- Những năm qua, bên cạnh thực hiện nhiệm vụ chính trị trung tâm, lực lượng Bộ đội Biên phòng Gia Lai luôn tích cực tham gia các mô hình, phần việc thiết thực giúp người dân xóa đói giảm nghèo, ổn định cuộc sống, nâng cao dân trí, phát triển kinh tế-xã hội và đảm bảo an ninh biên giới.

Anh Lê Ngọc Hưng (khi còn là Thiếu tá, Đội trưởng Đội An ninh Công an huyện Chư Prông) tiếp xúc tranh thủ già làng Rơ Mah Klua (làng Lâm So, xã Thăng Hưng) để vận động người dân chấp hành tốt các quy định của pháp luật. Ảnh: T.T.T

Người lính một thời chống FULRO trên mảnh đất Chư Prông

(GLO)- “Tuổi trẻ của tôi tự hào nhất là cùng với đồng đội đưa được hàng trăm người lầm lỡ trở về với chính nghĩa, với buôn làng, sống trong sự thương yêu của gia đình và cộng đồng”-Thượng tá Lê Ngọc Hưng-Phó Trưởng phòng Xuất nhập cảnh (Công an tỉnh Gia Lai) chia sẻ.

Đề án 06: Động lực xây dựng tỉnh nhà hiện đại, văn minh - Kỳ cuối: Tháo gỡ điểm nghẽn để về đích đúng tiến độ

Đề án 06: Động lực xây dựng Gia Lai hiện đại, văn minh - Kỳ cuối: Tháo gỡ điểm nghẽn để về đích đúng tiến độ

(GLO)- Triển khai Đề án 06 về phát triển ứng dụng dữ liệu về dân cư, định danh và xác thực điện tử phục vụ chuyển đổi số quốc gia giai đoạn 2022-2025, tầm nhìn đến năm 2030, các cơ quan, ban, ngành, đơn vị phối hợp chặt chẽ để tháo gỡ những điểm nghẽn, khó khăn, bất cập nhằm thực hiện đúng tiến độ.

3 thế hệ theo con đường binh nghiệp

3 thế hệ theo con đường binh nghiệp

(GLO)- Dưới chân đèo Chư Sê (tỉnh Gia Lai) có một gia đình giàu truyền thống cách mạng với 3 thế hệ cùng theo con đường binh nghiệp. Tiếp nối truyền thống ông cha, hôm nay, con cháu tiếp tục xung phong lên đường nhập ngũ, góp sức bảo vệ Tổ quốc.

Phó Bí thư Tỉnh ủy Nguyễn Ngọc Lương (thứ 3 từ trái sang) tặng quà của Thường trực Tỉnh ủy cho 38 hộ dân tại khu tái định cư Suối Cạn. Ảnh: Anh Huy

Mùa xuân đầu tiên ở khu tái định cư Suối Cạn

(GLO)- Chuyển về sinh sống tại khu tái định cư Suối Cạn thuộc thôn Thắng Lợi 3 (xã Ia Sol, huyện Phú Thiện, tỉnh Gia Lai), 38 hộ dân người Jrai từng sinh sống trong những căn nhà tạm bợ ven suối đã bước sang trang mới.

Chị Nguyễn Thị Mỹ Lợi (thứ 2 từ phải sang)-Bí thư Chi bộ kiêm Trưởng thôn Tân Điệp 1 (xã Ia Ake, huyện Phú Thiện) trao đổi với người dân về kinh nghiệm phát triển kinh tế gia đình. Ảnh: N.M

Những đảng viên “miệng nói, tay làm”

(GLO)- Dù đảm nhận vị trí công việc khác nhau song điểm chung ở những đảng viên tiêu biểu chính là sự tận tụy, hết lòng với công việc được giao. “Miệng nói, tay làm”, họ trực tiếp vun bồi niềm tin của người dân với Đảng, chung sức xây dựng địa phương ngày một phát triển.

Cô Hồ Thị Thùy Trang luôn được các em học sinh yêu mến. Ảnh: A.H

Gieo con chữ, sáng niềm tin

(GLO)- Hơn 30 năm công tác tại Trường Tiểu học Phan Chu Trinh (xã Ia Blứ, huyện Chư Pưh), cô giáo Hồ Thị Thùy Trang không chỉ làm tốt công tác chuyên môn mà luôn dành sự yêu thương cho các thế hệ học trò và người dân vùng khó.

Giảng viên Lê Thị Tình được trao giải C tại cuộc thi “Chính luận về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch” năm 2023 (ảnh nhân vật cung cấp).

Giảng viên Lê Thị Tình: “Cháy hết mình” trên bục giảng

(GLO)- Mustafa Kernal Ataturk-Tổng thống đầu tiên nước Cộng hòa Thổ Nhĩ Kỳ có một câu rất ý nghĩa nói về nghề giáo: “Một người thầy giỏi giống như ngọn nến, nó đốt cháy chính mình để soi sáng đường cho những người khác”.

Xứng đáng với danh hiệu “Học sinh 3 tốt”

Xứng đáng với danh hiệu “Học sinh 3 tốt”

(GLO)- Với những thành tích xuất sắc trong học tập và rèn luyện, nhiều học sinh THPT trong tỉnh Gia Lai đã được tặng danh hiệu “Học sinh 3 tốt”. Danh hiệu này đã trở thành mục tiêu phấn đấu, thúc đẩy tinh thần học tập, sáng tạo và rèn luyện của các em.

Lão xà ích và đàn ngựa trên cao nguyên

Lão xà ích và đàn ngựa trên cao nguyên

(GLO)- Hơn 30 năm cầm cương, ông Phan Xuân Định (SN 1966, thôn Đồng Bằng, xã Biển Hồ, TP. Pleiku) vẫn luôn nhớ về những ngày tháng rong ruổi cùng tiếng vó ngựa trên cao nguyên. Lão xà ích ấy vẫn âm thầm nuôi dưỡng đàn ngựa để thỏa chí tang bồng và giữ cho phố núi Pleiku nét riêng độc đáo.

Người Gia Lai “bất đắc dĩ”

Người Gia Lai “bất đắc dĩ”

(GLO)- Dường như với con người miệt sông nước, cuộc đời cũng như một dòng trôi. Nước đưa đẩy tới đâu, thuyền lênh đênh tới đó, cứ vậy mà thuận theo, chấp nhận, chẳng cưỡng cầu.

Lãng du bên dòng thác đẹp

Lãng du bên dòng thác đẹp

(GLO)- Trong truyện cổ Jrai có nói đến 2 dòng suối phát nguyên từ chân núi Chư Hdrung: Ia Drang và Ia Púch. Đây là 2 nguồn nước quý giá vừa nuôi sống các buôn làng Jrai ở dải đất Chư Prông, vừa có nhiều thác nước đẹp tô điểm cho núi rừng thêm xinh tươi, hùng vĩ.

Về nơi “đáng sống” trên cao nguyên

Về nơi “đáng sống” trên cao nguyên

(GLO)- Qua 2 đêm lưu trú ở thị trấn Kbang (huyện Kbang, tỉnh Gia Lai), anh bạn tôi thốt lên: Nếu nói Kbang là nơi “đáng sống” cũng không có gì là ngoa ngôn.