(GLO)- Bên cạnh bộ phận cư dân tại chỗ là người Bahnar, Jrai, một bộ phận người Kinh (Việt) cũng có mặt ở Gia Lai khá sớm. Trong nửa cuối thế kỷ XX, trên địa bàn tỉnh đã có một bộ phận cư dân rất lớn, thuộc nhiều dân tộc khác nhau, từ những nơi khác đến lập nghiệp. Trong số này, có nhóm người Hmông (đồng bào tự nhận là người Mông) cư trú thành các làng riêng, tại xã Ya Hội (huyện Đak Pơ).
Nhóm người Hmông ở xã Ya Hội hiện nay có nguồn gốc từ xã Phi Hải, huyện Quảng Uyên, tỉnh Cao Bằng. Tháng 5-1982, nhóm người Hmông đầu tiên vào Ya Hội chỉ có 11 hộ với 115 nhân khẩu, do ông Lý Văn Páo dẫn đầu.
Những cô gái Hmông ở Ya Hội. Ảnh: Lê Nam
Người nhà ông Lý Văn Páo cho biết, cơ duyên đưa họ đến với Tây Nguyên là vì, trong thời kỳ chống Mỹ cứu nước, một người em họ của ông Páo lấy chồng là ông Đinh Jong Hinh, người Bahnar, quê ở làng Tơ Nung (xã Ya Ma, huyện Kông Chro) tập kết ra Bắc. Thời gian ở miền Bắc, ông là họa sĩ của Phòng Văn hóa-Thông tin huyện Quảng Uyên (tỉnh Cao Bằng). Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, ông Hinh đưa vợ con về quê (năm 1978), còn bản thân thì chuyển về làm cán bộ Phòng Văn hóa-Thông tin huyện Mang Yang, rồi nghỉ hưu từ những năm 1980. Trở về quê hương, ông viết thư mời ông Páo vào Tây Nguyên-nơi mà ông vẫn kể với gia đình bên vợ là có đất đai bao la, màu mỡ so với Cao Bằng.
Đến Tây Nguyên, 11 gia đình chọn địa điểm Gò Rạ, giáp UBND xã Ya Hội (cũ) để định cư, lập nên làng Mông. Sau đó, dân làng Mông đông dần lên do những người đã đến đây sinh thêm con cháu và do những người đồng hương của họ vẫn tiếp tục vào rải rác trong nhiều năm sau. Từ một làng ban đầu, đến nay, số người Hmông ở Ya Hội đã hình thành 3 làng tập trung, gồm: Mông 1, Mông 2 và Ghép. Tính đến tháng 4-2017, làng Mông 1 có 40 hộ, 229 nhân khẩu; làng Mông 2 có 52 hộ, 275 nhân khẩu, ở dọc suối Hvây. Làng Mông 1 và Mông 2 cách nhau khoảng 700 mét. Riêng làng Ghép, ngoài 42 hộ với 199 nhân khẩu là người Hmông, trong làng còn có 5 hộ với 17 nhân khẩu là người Dao.
Từ Ya hội, năm 1994, có khoảng 7-8 hộ người Hmông đã chuyển sang sinh sống tại làng Lơ Vir, xã Lơ Ku, huyện Kbang.
Ở nước ta, người Hmông nằm trong nhóm 3 dân tộc nói ngôn ngữ Hmông-Dao là: Hmông, Dao và Pà Thẻn. Trước năm 1979, người Hmông được gọi là người Mèo. Gần đây, có người cho rằng nên gọi dân tộc này là Mông, thay cho Hmông (nhóm cư dân ở Ya Hội cũng tự nhận họ là người Mông). Tuy nhiên, trong danh mục các dân tộc Việt Nam, tộc danh của họ vẫn được ghi là Hmông.
Đến Gia Lai-một vùng đất xa quê cũ, nhưng do sinh sống tập trung thành những cộng đồng riêng, nên người Hmông trong các làng Mông và làng Ghép ở xã Ya Hội vẫn giữ được khá nhiều nét văn hóa đặc sắc của dân tộc như múa khèn, làm những bộ trang phục Hmông sặc sỡ, làm quả còn... cùng nhiều hoạt động văn hóa tinh thần khá đặc sắc.
(GLO)- Xuôi theo quốc lộ 19 về Quy Nhơn, bước vào địa phận thị xã An Khê là bắt gặp Chợ Đồn nằm ngay phía bên trái đường. Khu chợ này đã có tên tuổi từ đầu thế kỷ XX, đến nay vẫn tồn tại và phát triển. Nhưng rất ít người biết nó đã hình thành và hoạt động như thế nào sau những biến đổi của thời gian.
(GLO)- Trong 9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp, đã có rất nhiều ca khúc cách mạng ra đời, cổ vũ kịp thời lớp lớp thanh niên lên đường đi kháng chiến.
(GLO)- Chư Sê là tên của dãy núi ngăn cách cao nguyên Pleiku với vùng trũng Cheo Reo (Ayun Pa) theo chiều Bắc Nam. Trên thực tế, người ta biết đến địa danh Chư Sê nhiều còn bởi nó cũng là tên của một đường đèo dài 3 km trên quốc lộ 25, cắt ngang dãy núi này.
(GLO)- Tại Phòng Văn hóa-Thông tin thị xã An Khê hiện đang lưu giữ một bài thơ viết về người Bí thư chi bộ đầu tiên của An Khê: Liệt sĩ Đỗ Trạc, hy sinh ngày 7-3-1947. Trước đó, ông bị thực dân Pháp bắt, tra tấn 7 ngày 7 đêm. Không khuất phục được ông, chúng đã hèn hạ xử bắn ông tại sân vận động An Khê rồi chặt thành 3 khúc. Cảm động trước khí tiết của ông, một tác giả có tên Huỳnh Trung Tín đã có bài thơ “Đầu sóng hiên ngang“:
(GLO)- Từ chỗ chỉ có 2 dân tộc tại chỗ là Bahnar và Jrai, kết quả điều tra dân số và nhà ở năm 2009 cho biết, trên địa bàn Gia Lai thời điểm đó có đến 38 dân tộc cùng chung sống. Những dân tộc có mặt ở Gia Lai muộn đều có những lý do riêng để chọn vùng đất này làm quê hương thứ hai, trong đó có cộng đồng người Tày và người Nùng ở xã Tơ Tung, huyện Kbang.
(GLO)- Trong sử liệu về cách mạng Việt Nam có nhắc đến vai trò của các “Chiến sĩ quốc tế-Việt Nam mới“ trong kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1946-1954). Đó là những người châu Âu, châu Á, châu Phi, từng là sĩ quan, binh lính viễn chinh xâm lược Việt Nam, sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đã tình nguyện gia nhập Quân đội nhân dân Việt Nam, tham gia huấn luyện, chiến đấu chống Pháp, được Bác Hồ gọi là người “Việt Nam mới“.
(GLO)- Trong các địa danh quen thuộc ở Gia Lai, có lẽ không địa danh nào được sử dụng cho nhiều không gian khác nhau, ở những thời điểm lịch sử khác nhau như Đak Đoa. Điều này, làm cho những người ở Gia Lai (hay tỉnh Pleiku thời kỳ trước giải phóng) sẽ hình dung ra những vùng đất riêng khi nhắc đến Đak Đoa.
(GLO)- Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược của Gia Lai nói chung, của An Khê nói riêng có một trận đánh được Lịch sử Đảng bộ tỉnh Gia Lai ghi nhận: trận công đồn Tú Thủy (thuộc huyện An Khê) tháng 3-1947. Đây là trận phản công quy mô lớn đầu tiên trên chiến trường Gia Lai kể từ khi quân Pháp tái chiếm Tây Nguyên năm 1946.
(GLO)- Làng Mook Đen, xã Ia Dom (huyện Đức Cơ) là một làng biên giới giáp với Vương quốc Campuchia. Nơi đây ẩn chứa nhiều “trầm tích“ của lịch sử qua các cuộc chiến tranh. Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, Mook Đen nằm trên phòng tuyến Chư Ty-Oyadav, mặt trận Tây Gia Lai năm 1946.
(GLO)- Những thập niên gần đây, cái tên Tơ Tung đã dần trở nên quen thuộc với đồng bào các dân tộc tỉnh Gia Lai và du khách quan tâm đến Tây Nguyên, bởi nơi ấy có di tích Làng kháng chiến Stơr-quê hương anh hùng Núp-những tên đất, tên người sớm nổi tiếng cùng tiểu thuyết “Đất nước đứng lên“ của nhà văn Nguyên Ngọc; có làng Leng Tơpung với những đội cồng chiêng đủ các thế hệ, giới tính… rất đặc biệt của Tây Nguyên.
(GLO)- Nơi chúng tôi muốn nói đến là vùng đất ở phía Đông Bắc xã Sơn Lang, huyện Kbang. Gần đây, chốn xa xôi cách trở này rất “hút“ người và trở thành một địa danh “hot“ bởi có nhiều thác-rừng hùng vĩ, một điểm đến tiềm năng của du lịch Gia Lai. Thế nhưng trên thực tế, việc đọc và viết địa danh này như thế nào hẳn đã từng làm không ít người lúng túng.
(GLO)- Sản vật Tây Nguyên nói chung, Gia Lai nói riêng có thể nói là rất nhiều, cả xưa và nay. Nhưng trong phạm vi bài viết này chỉ xin nói về sản vật tự nhiên của Gia Lai. Những sản vật này là gì và nay còn gì?
(GLO)- Đến Gia Lai, nhiều người thường đặt câu hỏi “tại sao“ khi thấy 2 địa danh rất Việt là Hà Đông, Hà Tây lại nằm trong một khu vực hầu như chỉ có người Bahnar sinh sống.
Trong lịch sử, Lý Anh Tông chính là vị vua Việt đầu tiên tuần thú biển Đông, xem xét tình hình để có phương sách bảo vệ chủ quyền trên vùng biển đảo rộng lớn.
(GLO)- Đã là dân Phố núi thì hầu như ai cũng đã một lần đặt chân đến Công viên Diên Hồng, bởi đây là nơi giải trí công cộng, lại nằm ngay trung tâm TP. Pleiku. Công viên có diện tích 12,3 ha, trong đó diện tích mặt nước là 2,7 ha với 2 hồ nước. Nơi đây có nhà hàng, khách sạn, có các khu vui chơi, khu thể thao, vườn hoa cây cảnh và chuồng thú, có mặt hồ vui chơi đạp vịt, chèo thuyền, phía trên là chiếc cầu treo bắc ngang tạo điểm nhấn thú vị…
(GLO)- Lần lữa đôi lần, mới đây tôi cũng đến thăm Bảo tàng Cổ vật (trực thuộc Bảo tàng tỉnh Gia Lai). Thăm rồi lại muốn giới thiệu thêm cho nhiều người biết. Băn khoăn vì, gần trọn buổi sáng hôm ấy mà chỉ có mình tôi với sự nhiệt tình đến du dương của cô thuyết minh viên Nguyễn An. An giải thích rằng, khách đến tham quan phần lớn là đi theo đoàn, cá nhân thì cũng… lai rai. Với tôi, bảo tàng này là độc nhất vô nhị: bảo tàng trong một ngôi chùa và chùa trong bảo tàng, nằm ngay giữa trung tâm TP. Pleiku.
(GLO)- Lệ Chí, Lệ Cần là những địa danh được người dân Pleiku biết đến nhiều, gắn với một đặc sản mang tên khoai lang Lệ Cần. Đây là những địa danh được hình thành khá sớm ở Gia Lai.